Soko G-4 Super Galeb

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ G-4 Super Galeb)
Bước tới: menu, tìm kiếm
G-4 Super Galeb
G-4 Super Galeb 23733 V i PVO VS, august 04, 2008.JPG
Kiểu Máy bay tiêm kích ném bom
Hãng sản xuất SOKO/Lola Utva
Chuyến bay đầu tiên 17 tháng 7 năm 1978
Được giới thiệu 1983
Hãng sử dụng chính Flag of Serbia.svg Không quân Serbia
Flag of Myanmar.svg Không quân Myanma
Flag of Republika Srpska.svg Không quân Cộng hòa Srpska
Số lượng được sản xuất 100+
Chi phí máy bay 4 triệu USD/chiếc

G-4 Super Galeb là một máy bay phản lực huấn luyện/tấn công hạng nhẹ của Nam Tư/Serbia. Máy bay bay lần đầu tiên vào ngày 17 tháng 7 năm 1978 và bắt đầu sản xuất hàng loạt vào năm 1983. Nó được chế tạo để thay thế cho loại máy bay G-2 GalebLockheed T-33 trong Không quân Nam Tư. G-4 Super Galeb không phải là một cải tiến của G-2 Galeb như trong một số sách đã nêu, đây là một thiết kế hoàn toàn mới.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào đầu thập niên 1990, G-4 đã thất bại trong cuộc cạnh tranh với các loại máy bay khác thuộc chương trình Hệ thống máy bay huấn luyện sơ cấp liên hợp ở Hoa Kỳ, nhưng nó lại được các phi công lái máy bay thử nghiệm của Mỹ đánh giá cao. Trong cuộc đua này người thắng cuộc là Raytheon/Pilatus với mẫu máy bay T-6 Texan II.

Có một thiết kế cho phiên bản một chỗ của G-4 có lẽ gọi là G-5, nó có khả năng tấn công lớn hơn bao gồm cả một radar. Dự án G-5 đã phải dừng lại khi Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư tan rã.

G-4M Super Galeb[sửa | sửa mã nguồn]

Phiên bản mới nhất của G-4 là G-4M, hiện nay nó đang được thử nghiệm cấp cao, nó được thiết kế bởi Lola Utva và kiểm tra nghiên cứu bởi Trung tâm thử nghiệm bay Batajnica. So sánh với nguyên bản G-4, thì G-4M có thể mang trọng lượng lớn hơn, có hệ thống điện tử hàng không tiên tiến hơn, một hệ thống dẫn đường/tấn công tích hợp, và hệ thống hiển thị trước mặt phi công HUD, thích ứng với yêu cầu của hệ thống HOTAS, và có thể mang tên lửa điều khiển không đối không và không đối đất. Serbia đã lập kế hoạch để nâng cấp mọi chiếc G-4 của mình thành G-4M.

Quá trình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

G-4 được tham chiến rộng rãi trong cả Chiến tranh BosniaChiến tranh Kosovo, trong các cuộc chiến này chung thường được sử dụng trong vai trò tấn công mặt đất.

Trong suốt thời gian xảy ra Chiến tranh Bosnia, lực lượng của quân đội Cộng hòa Srpska (VRS) đã gián tiếp sử dụng những chiếc G-4 Super Galeb. Không quân Hoa Kỳ cho là đã bắn hạ vài chiếc Super Galeb, nhưng những tuyên bố này đã được rút lại khi những tổn thất chính thức của VRS được công bố gồm có 6 J-21 Jastreb và 2 J-22 Orao, những chiếc máy bay này bị rơi do cả từ quân địch lẫn tai nạn. Sau chiến trang chỉ có 1 chiếc G-4 Super Galeb được giữ lại trong Không quân Cộng hòa Srpska, còn lại những chiếc khác đã bay đến Serbia.

Các nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Flag of Serbia.svg Serbia
Flag of Republika Srpska.svg Cộng hòa Srpska
Flag of Myanmar.svg Myanma
Flag of Montenegro.svg Montenegro

Trước đây[sửa | sửa mã nguồn]

Cờ của Cộng hòa dân chủ Yugoslavia Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Nam Tư
Cộng hòa Liên bang Nam Tư Cộng hòa Liên bang Nam Tư

Thông số kỹ thuật (G-4)[sửa | sửa mã nguồn]

Galeb g4-line.gif

Đặc điểm riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đoàn: 2
  • Chiều dài: 11.86 m (38 ft 11 in)
  • Sải cánh: 9.88 m (32 ft 5 in)
  • Chiều cao: 4.28 m (14 ft ½ in)
  • Diện tích cánh: 19.5 m² (209.90 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 3.134 kg (6.909 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 4.800 kg ()
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 6.300 kg (13.889 lb)
  • Động cơ: 1× Rolls-Royce Viper 632-46, lực đẩy 17.8 kN (4.000 lbf)

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1x pháo 23 mm
  • Mang được 1200 kg vũ khí bao gồm tên lửa, bom

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách tiếp theo[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]