Galerella sanguinea

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Galerella sanguinea
2009-slender-mongoose.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Herpestidae
Chi (genus) Galerella
Loài (species) G. sanguinea
Danh pháp hai phần
Galerella sanguinea
(Rüppell, 1835)[2]
Slender Mongoose area.png

Galerella sanguinea là một loài động vật có vú trong họ Cầy mangut, bộ Ăn thịt. Loài này được Rüppell mô tả năm 1835.[2]

Nơi sinh sống[sửa | sửa mã nguồn]

Loài này có đến năm mươi phân loài, được tìm thấy trên khắp châu Phi cận Sahara, với loài cầy đen của Angola và Namibia đôi khi được coi là một loài riêng biệt. Chúng có khả năng thích nghi và có thể sống gần như bất cứ nơi nào trong phạm vi rộng này, nhưng phổ biến nhất trong các thảo nguyên và đồng bằng khô cằn. Chúng hiếm hơn nhiều ở các khu vực rừng rậm và sa mạc.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Như tên cho thấy, loài cầy mảnh mai có một cơ thể nhỏ dài 27,5–40 cm và đuôi dài 23–33 cm. Con đực nặng 640-715 g, trong khi con cái nhỏ hơn với trọng lượng 460-575 g. Màu sắc của lông của chúng rất khác nhau giữa các phân loài, từ tối màu nâu đỏ với màu cam đỏ, màu xám, hoặc thậm chí là màu vàng, nhưng những cầy mangut có thể phân biệt từ loài cầy mangut khác do đầu đen hoặc màu đỏ nổi bật trên đuôi của chúng. Chúng cũng có lông mượt hơn các thành viên châu Phi khác trong họ.

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Cầy mảnh mai thường sống một mình hay theo cặp. Chúng chủ yếu sinh hoạt ban ngày, mặc dù đôi khi hoạt động vào đêm ấm áp có trăng sáng. Chúng dường như không có hành vi chiếm lãnh thổ riêng nhưng nơi ở của chúng khá ổn định thường được chia sẻ với các thành viên của các loài có liên quan. Thật sự, loài cầy mảnh mai và những loài khác thậm chí có thể sống chung hang với nhau, như hầu hết các loài liên quan với chúng sinh hoạt về đêm. Hang của chúng Các tụ điểm có thể tìm thấy bất cứ nơi nào được che chở từ các yếu tố: các khe giữa các tảng đá, trong các khúc gỗ rỗng, và như tương tự.

Phạm vi của một con đực sẽ bao gồm các phạm vi của một số con cái, và các dấu hiệu mùi hương thông báo cho con đực biết con cái đang động dục. Thời kỳ mang thai được cho là 60-70 ngày, và hầu hết sinh từ một đến ba con một lứa. Con đực không cùng chăm sóc com non.

Cầy mảnh mai là chủ yếu ăn thịt, mặc dù chúng là một loài động vật ăn tạp cơ hội. Côn trùng tạo nên phần lớn khẩu phần trong chế độ ăn của chúng, nhưng chúng cũng ăn thằn lằn, động vật gặm nhấm, rắn, chim, động vật lưỡng cư, và thỉnh thoảng ăn trái cây nếu có sẵn. Chúng cũng sẽ ăn xác thối và trứng. Trong tư cách là hình ảnh phổ biến của loài cầy mangut, loài cầy này có khả năng giết chết và sau đó ăn các loài rắn độc, nhưng rắn độc không cấu thành một khẩu phần đáng kể của loài cầy này.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoffmann, M. (2008). Herpestes sanguineus. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2014.2. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2014.  Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern
  2. ^ a ă Wilson, Don E.; Reeder, DeeAnn M. biên tập (2005). Galerella sanguinea. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Galerella sanguinea tại Wikimedia Commons