Galveston (lớp tàu tuần dương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Oklahoma City (CLG-5) underway 1974.jpg
Tàu tuần dương Oklahoma City trên đường đi
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: lớp Galveston
Bên sử dụng: Cờ của Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước: lớp Boston
Lớp sau: lớp Providence
Thời gian đóng: 1956-1960 (cải biến)
Hoàn tất: 3
Nghỉ hưu: 3
Giữ lại: 1
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu tuần dương tên lửa điều khiển
Trọng tải choán nước: 15.205 tấn Anh (15.449 t)
Độ dài: 610 ft (190 m)
Sườn ngang: 66 ft (20 m)
Mớn nước: 25 ft (7,6 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số
4 × nồi hơi ống nước áp lực 634 psi
4 × trục
công suất 100.000 shp (75.000 kW)
Tốc độ: 32,5 hải lý một giờ (60,2 km/h; 37,4 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.395
Vũ trang:

Little Rock & Oklahoma City:
3 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber (1×3);
2 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (1×2);
2 × bệ phóng tên lửa đất-đối-không RIM-8 Talos (1×2)
Galveston:
6 × pháo 6 in (150 mm)/47 caliber (2×3);
6 × pháo đa dụng 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2);

2 × bệ phóng tên lửa đất-đối-không RIM-8 Talos (1×2)

Lớp tàu tuần dương Galveston là một lớp tàu tuần dương tên lửa điều khiển hạng nhẹ (CLG) của Hải quân Hoa Kỳ. Nguyên được chế tạo như những tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp Cleveland trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, ba chiếc Galveston, Little RockOklahoma City đã được xếp lại lớp vào năm 1957 và được trang bị hệ thống tên lửa đất-đối-không tầm xa Talos. Trong quá trình tái trang bị kéo dài hai năm, phần cấu trúc thượng tầng phía sau được thay đổi toàn bộ, tháo dỡ tất cả các khẩu pháo phía đuôi dành chỗ cho hai dàn phóng tên lửa Talos hai cần và một hầm đạn chứa 46 quả tên lửa. Ba cột ăn-ten lớn cũng được trang bị để mang một loạt các hệ thống radar, dẫn đường tên lửaliên lạc.

Little RockOklahoma City cũng đồng thời được cải biến thành soái hạm của hạm đội, bao gồm việc tháo dỡ hai tháp pháo 5 inch (127 mm) nòng đôi và một tháp pháo 6 inch (152 mm) ba nòng phía trước, thay thế bằng một cấu trúc thượng tầng đóng mới toàn bộ và mở rộng ra phía trước. Trong cấu hình không phải là soái hạm, Galveston giữ lại dàn vũ khí tiêu chuẩn phía trước của lớp Cleveland: ba tháp pháo 5 inch (127 mm) nòng đôi và hai tháp pháo 6 inch (152 mm) ba nòng.

Một quá trình cải biến tương tương tự cũng được tiến hành trên ba chiếc khác cùng lớp ClevelandProvidence, SpringfieldTopeka trang bị hệ thống tên lửa đất-đối-không Terrier, hình thành nên lớp tàu tuần dương Providence. ProvidenceSpringfield được trang bị như những soái hạm của hạm đội, nhưng Topeka thì không.

Giống như những chiếc thuộc lớp Providence, lớp Galveston mắc phải những vấn ̣đề nghiêm trọng về độ ổn định do trọng lượng bên trên quá nặng của hệ thống tên lửa. Thực ra, lớp Galveston bị ảnh hưởng nặng do tên lửa hạng nặng Talos hơn những chiếc trang bị tên lửa Terrier. Các biện pháp cắt giảm trọng lượng được áp dụng, cũng như sử dụng các trọng lượng dằn để cải thiện độ ổn định. Các con tàu, đặc biệt là Galveston, còn chịu ảnh hưởng của sự uốn cong lườn tàu.

Cả ba chiếc trong lớp Galveston đều được cho ngừng hoạt động và đưa về lực lượng dự bị giữa những năm 19701979. Khi các tàu chiến Hoa Kỳ được tái xếp lớp vào năm 1975, Little RockOklahoma City được xếp lớp lại như những tàu tuần dương tên lửa (CG). Các con tàu được rút khỏi Đăng bạ Hải quân giữa những năm 19731979. Galveston bị tháo dỡ vào giữa những năm 1970, Oklahoma City bị đánh chìm như một mục tiêu vào năm 1999; riêng Little Rock được giữ lại như một tàu bảo tàng tại Buffalo, New York.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Galveston (CLG-3) tháng 8 năm 1943 22 tháng 4 năm 1945 28 tháng 5 năm 1958 Ngừng hoạt động tháng 5 năm 1970; bán để tháo dỡ tháng 5 năm 1975
Little Rock (CLG-4) 6 tháng 3 năm 1943 27 tháng 8 năm 1944 tháng 6 năm 1960 Ngừng hoạt động tháng 5 năm 1976; hiện là tàu bảo tàng tại Buffalo, New York
Oklahoma City (CLG-5) 8 tháng 12 năm 1942 20 tháng 2 năm 1944 tháng 9 năm 1960 Ngừng hoạt động tháng 12 năm 1979; đánh chìm như một mục tiêu năm 1999


Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]