Garfield (nhân vật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Garfield
Garfield.JPG
Garfield hình trắng đen
Xuất hiện lần đầu truyện tranh Garfield (19 tháng 6, 1978)
Sáng tạo bởi Jim Davis
Minh họa bởi Lorenzo Music (1982-1994;đã mất)
Chafurin (hoạt họa, người Nhật)
Bill Murray (2004/2006)(phim diễn trực tiếp)
Frank Welker (2007) (Garfield Gets Real)
Lou Rawls (giọng hát trong các chương trình TV đặc biệt trước đây (1982-1991; đã mất)
Thông tin
Giống loài Mèo mướp màu cam
Giới tính Đực
Ngày sinh 19 tháng 6, 1978 (35 tuổi)
Gia đình Sonja (mẹ), Raoul (anh cùng cha khác mẹ), Jon (chủ) người ông không rõ tên

Garfieldnhân vật chính hư cấu trong truyện tranh cùng tên của tác giả Jim Davis. Nó là một con mèo mướp lười biếng, mập, ích kỷ, lông màu cam, giống như người thích ăn, ngủ, trộm đồ ăn của Jon, và rất keo kiệt với Odie khi luôn đá con chó văng khỏi bàn. Nó ghét Thứ hai bởi vì nó thường gặp xui xẻo vào ngày hôm đó, như bị đập bởi một cái bánh không biết từ đâu bay tới, và nó cho rằng mình thông minh hơn người, chó, hay bất kỳ sinh vật nào khác. Nó cũng thích múa may trên hàng rào gỗ vào giữa đêm, mặc dù thường bị chê bai và oanh tạc bằng đủ các đồ vật khác nhau bởi những khán giả kích động. Nó ghét nhện, và thường đập chúng bằng một tờ báo hoặc bất cứ thứ gì ở gần đó. Đôi khi, nó xé nát màn cửa của Jon và phá hoại/ăn cây dương xỉ của cậu, mà kết quả là sự tức giận của Jon đối với nó. Nó cũng nổi tiếng vì hay phá hoại vườn hoa của Jon và bà hàng xóm Feeny, cũng như hành hạ con chó của bà. Nó ghét bị đưa tới bác sĩ, và thường trốn Jon khi được thông báo hoặc nếu nó cảm thấy "muốn bệnh". Trong chuỗi truyện tranh dài nhất vào năm 1986, địa chỉ nơi Garfield, Jon và Odie sống là số 711 đường Maple.

Jim Davis đặt tên Garfield theo tên của bà nội ông, James A. Garfield Davis.[1] Theo một cuộc phỏng vấn với Jim Davis trong cuốn sách diễn giải Garfield thứ hai, Garfield Gains Weight, cái tên "Garfield" khiến ông nghĩ đến "...một con mèo mập...hoặc một con St. Bernard (chó cứu người)...hoặc một hàng đồ lót đang phơi." Nó "nói" thông qua khung hội thoại suy nghĩ nghĩ, và mặc dù các con thú khác có thể hiểu được nó, hầu như như Jon không nghe được cuộc nói chuyện của nó, tuy đôi lúc cậu có phản ứng với suy nghĩ của nó.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Garfield sinh ra trong một căn bếp của Nhà hàng Ý Mama Leone và cực kỳ yêu thích món lasagna từ cái ngày mà nó sinh ra. Kể từ đó, lasgna là món ăn ưa thích của nó.[2] Theo như bà ngoại của nó, không mấy bất ngờ, nó sinh ra nặng năm pound, sáu ounce, và phải cố gắng nằm vừa chiếc giường bé xíu. Về sau, Garfield tình ngờ đi ngang qua Mẹ mình một lần vào đêm Giáng sinh, và gặp ông nội của nó lần đầu tiên[3]. Khi Jon nhận nuôi nó, cậu đã phải chọn giữa Garfield, một con cự đà, và một pet rock. Theo như truyện tranh, Garfield đứng trên hai chân đầu tiên vào ngày 17 tháng 5, 1981[4]. Tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với các tập trước. Ví dụ, người ta đã vẽ nó nhảy clacket trên đầu Jon trong cuốn truyện ngày 6 tháng 5, 1979[5]. Tương tự, trong tập truyện ngày 16 tháng 9, 1979, Garfield đã mộng du đi trên hai chân[6]. Trong bộ phim truyền hình đặc biệt Garfield Gets a Life, chiếc xe của Jon có biển đăng ký xeIndiana vào cuối chương. Cho thấy họ sống ở Indiana. Trong Garfield Goes Hollywood, trong khi Jon, Odie và Garfield đang ở Pet Search, người giới thiệu nói rằng họ đến từ Muncie, Indiana. Điều này có thể do Jim Davis là người Indiana, và Paws, Inc. nằm ở Muncie. Trong các lần xuất hiện trong truyện tranh, Garfield thường làm những trò láu cá trong các chương truyện. Vào tháng 6 năm 1983, truyện tranh giới thiệu nhân vật Amoeba Man, một trong nhũng nhân vật thay thế của Garfield, nhưng nó chỉ xuất hiện trong 6 chương truyện (6-20 đến 6-25). Amoeba Man chỉ là một trong những nhân vật thay thế tưởng tượng mặc dù, nhân vật phổn biến nhất là Caped Avenger. Và trong một khoảng thời gian rất ngắn, Garfield trở thành mồi nhử cho nhiều loại chó khác nhau như Bungee Dog, Warm up dog v.v. Sẽ đuổi bắt nó ở bất cứ đâu. Đôi khi Garfield sử dụng "hộp tè" (litter box), như trong truyện năm 1978, nó nói rằng nó ghét đồ thương mại vì nó quá ngắn cho một chuyến thăm đến cái hộp.[7] Nó cũng cho thấy vào ngày 1 tháng 7, 1983 nó không thích nho khô[8]. Sinh nhật nó là vào ngày 19 tháng 6 năm 1978, ngày mà truyện Garfield đầu tiên phát hành[9][10][11]. Garfield thường tham gia nhiều cuộc phiêu lưu, như bị kẹt trong một cái thùng lăn, cãi nhau với chuột, và bị nhốt trong chuồng thú. Vào năm 2005, Garfield và Jon xuất hiện trong vài tập truyện tranh Blondie trong lễ kỷ niệm 75 năm của cuốn truyện[12]. Garfield rất phấn khích vì nó không phải suy nghĩ nữa[13]. Blondie cũng từng có mặt trong truyện Garfield xuất bản ngày 1 tháng 4, năm 1991[14].

Garfield là một trong những nhân vật hoạt hình có mặt trong Cartoon All-Stars to the Rescue.

Ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những đặc điểm thu hút của Garfield đó là nó là con vật vô cùng phàm ăn. Nó thường được vẽ lúc nào cũng ngấu nghiến thức ăn có nhiều chất béo. Trong các món spaghetti, pizza, bánh bích quy (nhất là bánh do mẹ Jon làm), hamburger, cả một con gà, bắp rang bơ, bánh nước, bánh rán, kem, và mứt mà nó từng ăn, món ăn khoái khẩu của nó luôn luôn là lasagna và nó thường được mô tả trong tư thế ăn đặc trưng với cái đầu uốn cong, miệng mở rộng, xúc thức ăn vô miệng với một nụ cười toe toét trên mặt. Mặc dù ăn là thú vui của nó, Garfield khá kén ăn. Nó ghét thức ăn cho mèo (hiếm khi thấy nó ăn thức ăn dành cho mèo), nho khô, ốc sên, bánh trái cây, bưởirau, đặc biệt trong những bữa ăn kiêng hiếm hoi của nó. Những thứ này thường đi kèm với những ảo giác về một số món khoái khẩu bay xung quanh nó, đang đợi được ăn.

Sau đó, câu chuyện vui xuất hiện khi Jon cố gắng bắt Garfield phải ăn kiêng. Để trả đũa, Garfield sẽ tìm những cách để giấu thức ăn, hoặc cố làm đau Jon.

Tính cách thay thế[sửa | sửa mã nguồn]

Garfield có một trí tưởng tượng phong phú, và kết quả là rất thích dùng những đồ vật bình thường như vớ hoặc chuối để khiến cho cậu có danh tính bí ẩn. Tính cách phổ biến nhất là The Caped Avenger, mặc dù còn có Sumo Cat, Karate Cat, The Sock, Banana Man, Chicken ManJudo Cat. Đa số các nhân vật này chỉ xuất hiện trong một câu chuyện thường có ba truyện cả thảy.

Các loại hình khác[sửa | sửa mã nguồn]

Garfield trong phim Garfield 2 Jim Davis đã nhiều lần nói: "Con quái màu cam khổng lồ là sinh vật hậu hiện đại nhất trên hành tinh. Đặc biệt là những con quái vật có hình dáng Garfield màu cam khổng lồ."
  • Trong hai phim chiếu trực tiếpGarfield Gets Real, Garfield được tạo nên sử dụng hoạt họa CGI, mặc dù phiên bản Garfield Gets Real gần gũi với hình dạng gốc hơn dạng phim trực tiếp.
  • Trong loạt phim hoạt hình và phiên bản đặc biệt, Lorenzo Music là người lồng tiếng. Trong các phim người đóng, nó do Bill Murray lồng tiếng. Một điểm đáng chú ý là hai diễn viên cùng đóng vai Dr. Peter Venkman. Trong Garfield Gets Real, Garfield được Frank Welker lồng tiếng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Jim Davis: The Man Behind the Cat
  2. ^ Garfield: His 9 Lives
  3. ^ Garfield on the Town
  4. ^ [1]
  5. ^ [2]
  6. ^ [3]
  7. ^ 8-4-1978 strip
  8. ^ 7-1-83 strip
  9. ^ “The Garfield Vault Strip”. Garfield.com. 2006-06-19. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2006. 
  10. ^ “The Garfield Vault Strip”. Garfield.com. 2005-06-19. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2006. 
  11. ^ “The Garfield Vault Strip”. Garfield.com. 1978-06-19. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2006. 
  12. ^ Blondie
  13. ^ 8-20-05 strip
  14. ^ “The Garfield Vault Strip”. Garfield.com. 1997-04-01. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2007. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Garfield - The Official Site of Garfield.