Gary Barlow

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gary Barlow
Gary Barlow on stage in 2009 crop.jpg
Tên khai sinh Gary Barlow
Sinh 20 tháng 1, 1971 (43 tuổi)
Frodsham, Chesire, Anh Quốc
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất âm nhạc
Thể loại Pop, ballad, dance
Nhạc cụ Giọng hát, piano, keyboards
Năm 1988 – nay
Hãng đĩa Sony BMG, Polydor, San Remo, Future Records
Hợp tác Take That
Website www.garybarlow.com

Gary Barlow, OBE, sinh ngày 20 tháng 1 năm 1971 tại Frodsham, Cheshire, Anh, là ca sĩ, người viết nhạc và thủ lĩnh của ban nhạc nổi tiếng Take That, đồng thời là giám khảo[1][2] của chương trình The X Factor mùa thứ 8, 9 và 10.[3] Anh là một trong những người viết nhạc nổi tiếng và thành công nhất tại Anh với 14 đĩa đơn đứng ở vị trí số 1 và 24 đĩa đơn khác trong top 10.[4] Trong sự nghiệp solo, anh đã có 3 đĩa đơn đứng ở vị trí số 1, 6 đĩa đơn trong top 10 và 2 album đứng vị trí số 1.[5][6]. Cùng với Take That, Barlow đã có 17 bài top 5, 12 bài đầu bảng xếp hạng và 5 album đầu bảng xếp hạng.[7][8] Anh đã 6 lần nhận giải Ivor Novello và đã bán được hơn 50 triệu đĩa trên toàn cầu.[9][10][11]

Ngày 11 tháng 6 năm 2012, Barlow được Nữ hoàng Anh phong danh hiệu cao quý OBE của Hoàng gia Anh vì những đóng góp của anh trong âm nhạc và làm từ thiện.[12][13]

Hiện tại, Gary Barlow vẫn cùng Take That thực hiện những album của nhóm.

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tự truyện của mình, Gary nói rằng tình yêu dành cho âm nhạc của anh đã bắt đầu từ thời thơ ấu.

"I was one of those kids that's forever dancing in front of the TV looking at my reflection."

Anh từng thích xem chương trình Top of the Pops trên TV, và năm 10 tuổi, anh xem một tập của chương trình có ban nhạc Depeche Mode biểu diễn ca khúc mới "Just Can't Get Enough". Barlow bị mê hoặc bởi giai điệu và quyết định muốn một cây đàn keyboard cho Giáng Sinh. Trong vài năm tiếp theo, anh dành hầu hết thời gian rảnh rỗi để tự học các bài hát yêu thích của mình.

Năm 1986 Barlow tham gia cuộc thi sáng tác bài hát Giáng Sinh Pebble Mill at One của đài BBC với bài hát "Let's Pray For Christmas". Sau khi qua vòng bán kết, anh được mời đến London's West Heath Studios để thu âm bài hát của mình. Điều này đã tạo cảm hứng cho Barlow biểu diễn các bài hát cover và của riêng mình quanh các câu lạc bộ phía bắc. Lần đầu tiên anh biểu diễn là ở Connah's Quay Labour Club vào cuối thập niên 80 và được trả 18 bảng Anh mỗi lần biểu diễn vào những tối thứ bảy.

Năm 1989 anh bổ nhiệm Barry Woolley làm quản lý và thu âm một đĩa đơn ("Love Is in the Air") chưa từng được phát hành thương mại. Barlow cuối cùng đã liên lạc với ông bầu Nigel Martin-Smith, người đang có ý định thành lập một boyband. Martin-Smith quyết định chọn Barlow làm ca sĩ chính sau khi bị ấn tượng bởi tác phẩm tự sáng tác của anh, bao gồm cả bản demo "A Million Love Songs". Ông kết luận rằng ban nhạc sẽ được xây dựng xung quanh giọng hát và tài năng sáng tác của Barlow.

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Take That 1989 - 1996, 2005 - nay[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Take That.

Gary Barlow - người đã viết phần lớn các ca khúc của nhóm - được công nhận là tài năng đứng đằng sau nhóm Take That. Sau khi chọn Gary làm nhóm trưởng của ban nhạc, ông bầu Nigel Martin-Smith đã giới thiệu Howard Donald, Jason Orange, Mark OwenRobbie Williams để hoàn thành nhóm nhạc. Sau đó nhóm nhạc Anh Quốc kí hợp đồng với hãng đĩa RCA, và trong top 40 bản hits, vị trí số 1 thuộc về Pray của Gary Barlow. Những bản hit trước đó bao gồm có "A million love songs", "It only takes a minute", "Could it be magic". Album đầu tay Take That and Party được phát hành ngày 17 tháng 8 năm 1992, đạt vị trí thứ hai trên Bảng xếp hạng album Anh Quốc (UK Album Chart). Một năm sau, album thứ hai Everythingschanges dựa trên các sáng tác của Gary, leo thẳng lên vị trí số 1 của Bảng xếp hạng album Anh Quốc và có bộn đĩa đơn hạng nhất, còn "Why Can't I Wake Up With You" và "Love ain't here anymore" được hạng 2 và 3. Gary được nhận giải thưởng Ivor Novello cho Best Contemporary Song trong năm 1994 cho bản hit "Pray".

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Metro 11 Sept 11”. Nowmagazine.co.uk. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012. 
  2. ^ “RECENT EVENTS – GARY BARLOW Royal Albert Hall Concert”. Royalalberthall.com. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012. 
  3. ^ “Digital Spy 07–05–11”. Digital Spy. 7 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012. 
  4. ^ Alan Jones (11 tháng 6 năm 2012). “Official Charts Analysis: Gary Barlow tops Album and Singles lists 10:02”. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2013. 
  5. ^ “Gary Barlow: Career”. bbc.co.uk. 15 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  6. ^ “Gary Barlow lands Official Number 1 album for Diamond Jubilee”. Official Charts Company. 3 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2013. 
  7. ^ “X Factor Official Stats”. Xfactor.itv.com. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2012. 
  8. ^ “Take That Appreciation Pages”. Take-that.co.uk. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2010. 
  9. ^ “Gary Barlow concert Royal Albert Hall Bio. 45 million with Take That and 5 million as a solo artist”. Life.royalalberthall.com. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012. 
  10. ^ “Music Industry Trust honours Barlow”. London: Independent.co.uk. 19 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  11. ^ Rayner, Gordon (23 tháng 5 năm 2012). “Gary Barlow: the day the Prince of Wales taught me how to write a Diamond Jubilee song”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2013. 
  12. ^ London Gazette: (Supplement) số 60173, tr. 9, 16 June 2012.
  13. ^ Kate Winslet được Nữ hoàng Anh tôn vinh, VnExpress

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]