Gary Neville

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gary Neville
Gary Neville crop.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Gary Alexander Neville
Ngày sinh 18 tháng 2, 1975 (39 tuổi)
Nơi sinh Bury, Greater Manchester, Anh
Chiều cao 5 ft 11 in (1,80 m)[1][2]
Vị trí Hậu vệ cánh phải (đã giải nghệ)
CLB trẻ
1991–1992 Manchester United
CLB chuyên nghiệp*
Năm CLB ST (BT)
1992–2011 Manchester United 400 (5)
Đội tuyển quốc gia
1995–2007 Anh 85 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng được ghi ở giải Vô địch quốc gia cập nhật lúc 22:50, 1 tháng 1 năm 2011 (UTC).

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật lúc 16:57, 22 tháng 8 năm 2009 (UTC)

Gary Alexander Neville sinh ngày 18 tháng 2 năm 1975 tại Bury, Greater Manchester, là cầu thủ bóng đá người Anh hiện đã giải nghệ. Anh từng thi đấu ở giải ngoại hạng Anh cho CLB Manchester United. Vị trí sở trường của anh là hậu vệ cánh phải, Gary bắt đầu chơi bóng tại M.U và dành cả sự nghiệp của mình cho United. Ở thời kì đỉnh cao sự nghiệp, Gary Neville được biết đến như là một hậu vệ công-thủ toàn diện, cùng khả năng tạt cánh siêu việt, thứ rất cần thiết ở vị trí hậu vệ cánh. Anh xuất hiện lần đầu ở một trận đấu quốc tế là vào năm 1995 và dành 10 năm chơi bóng cho đội tuyển Anh.

Kể từ khi giải nghệ vào giữa mùa giải 2010–11, Neville trở thành bình luận viên cho kênh Sky Sports. Ngày 14 tháng 5, 2012, Neville được tân huấn luyện viên Roy Hodgson bổ nhiệm làm trợ lý tại đội tuyển Anh.[3]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Em trai của anh là Phillip cũng từng là một cầu thủ của MU từ 1993-2005, hiện anh ta đang là đội trưởng của Everton. Em gái của Gary, Tracey Neville là một cầu thủ bóng rổ của đội tuyển bóng rổ Anh. Mẹ của anh bà Jil là nhân viên tiếp tân của Bury, cha của anh Neville Neville từng là một cầu thủ bóng chày của Lancashire.

Sự nghiệp CLB[sửa | sửa mã nguồn]

Gary xuất hiện lần đầu ở M.U là vào năm 1992 trong trận gặp Torpedo MoscowUEFA Cup. Anh là cầu thủ thuộc thế hệ tài năng trẻ của Mu những năm 1990, cùng lứa với anh có Phil Neville, Ryan Giggs, David Beckham, Nicky Butt and Paul Scholes. Đến năm 1994 anh bắt đầu thi đấu chính thức trong đội hình Mu và trở thành cầu thủ không thể thiếu của Mu, và đã cùng Mu giành nhiều vinh quang. Năm 2005 anh trở thành đội trưởng kế nhiệm của Mu khi Roy Kean ra đi. Trong những năm đỉnh cao anh là một hậu vệ cánh công thủ toàn diện, với đường chuyền xa với độ chính xác rất cao anh đã nhiều lân góp công vào các bàn thắng của Quỷ đỏ. Gary bị chấn thương trong trận gặp Bolton tháng 3-2007 và cũng quay lại thi đấu khi gặp Everton hồi tháng 1-2008. Anh đã ghi 1 bàn và phút thứ 21 của trận đấu giúp cho Mu có được trận hòa trước Everton.Ngày 9-4 anh cũng thi đấu trong trận tứ kết C1 gặp AS Roma, anh chơi 81 phút sau khi ra sân để nhường chỗ cho Anderson. Đó là lần thứ 99 anh thi đấu ở cúp C1. Mới đây 21-5-2008 Mu của anh đã giành chiếc cúp C1 thứ 3 trong lịch sử sau chiến thắng trước Chelsea trên chấm 11m.

Vào ngày 2 tháng 2 năm 2011, Neville đã thông báo về quyết định giải nghệ của mình sau gần 20 năm cống hiến cho Manchester United.[4] Trận đấu cuối cùng của anh là trong trận thắng 2 - 1 trước West Bromwich Albion trên sân The Hawthorns vào ngày đầu năm 2011.[5][6]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Gary xuất hiện lần đầu ở tuyển Anh vào năm 1995. Đó là trận anh được Terry Venables gọi vào tuyển Anh thi đấu trong trận giao hữu với Nhật Bản. Năm 1996 anh cùng Tuyển Anh tham dự Euro 1996, mặc dù thế hệ gồm nhiều tài năng như Alan Shearer, David Beckham... Đội Anh đã thất bại trước Đức trên chấm 11m ở trận bán kết. Đó là một trận đấu được cho vào các trận kinh điển ở các kỳ Euro. Sau đó anh còn cùng đội tuyển tham gia Euro 2000, 2004 và World cup 98 2002,2006. Tuy nhiên anh vẫn chưa một lần cùng đội tuyển Anh có một lần bước lên bục cao nhất.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc Mùa giải Giải Cúp Cúp Liên đoàn châu Âu Khác[7] Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Manchester United 1992–93 0 0 0 0 0 0 1 0 0 0 1 0
1993–94 1 0 0 0 0 0 1 0 0 0 2 0
1994–95 18 0 4 0 3 0 2 0 0 0 27 0
1995–96 31 0 6 0 1 0 1 0 0 0 39 0
1996–97 31 1 3 0 1 0 10 0 1 0 46 1
1997–98 34 0 3 0 0 0 8 0 0 0 45 0
1998–99 34 1 7 0 0 0 12 0 1 0 54 1
1999–2000 22 0 0 0 9 0 4 0 35 0
2000–01 32 1 2 0 0 0 14 0 1 0 49 1
2001–02 34 0 2 0 0 0 14 0 1 0 51 0
2002–03 26 0 3 0 5 0 10 1 0 0 44 1
2003–04 30 2 4 0 1 0 7 0 0 0 42 2
2004–05 22 0 4 0 1 0 7 1 1 0 35 1
2005–06 25 0 3 0 5 0 4 0 0 0 37 0
2006–07 24 0 3 0 0 0 6 0 0 0 33 0
2007–08 0 0 0 0 0 0 1 0 0 0 1 0
2008–09 16 0 2 0 3 0 4 0 4 0 29 0
2009–10 17 0 1 0 4 0 6 0 0 0 28 0
2010–11 3 0 0 0 1 0 0 0 0 0 4 0
Tổng sự nghiệp 400 5 47 0 25 0 117 2 13 0 602 7

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 1 tháng 1 năm 2011[8]

Đội tuyển bóng đá Anh
Năm Trận Bàn
1995 6 0
1996 10 0
1997 7 0
1998 8 0
1999 3 0
2000 7 0
2001 8 0
2002 5 0
2003 7 0
2004 12 0
2005 4 0
2006 7 0
2007 1 0
Tổng cộng 85 0

Danh Hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rollin, Glenda; Rollin, Jack biên tập (2009). Sky Sports Football Yearbook 2009-2010. Headline. tr. 502. ISBN 978-0-7553-1948-0. 
  2. ^ Hugman, Barry J. (2009). The PFA Footballers' Who's Who 2009-10. Edinburgh: Mainstream Publishing. tr. 303. ISBN 978-1-84596-474-0. 
  3. ^ “Gary Neville appointed England coach for Euro 2012”. BBC Sport. 14/05/2012. Truy cập 20/05/2012. 
  4. ^ “Neville announces retirement”. ManUtd.com (Manchester United). 2 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2011. 
  5. ^ Chowdhury, Saj. “West Brom 1-2 Man Utd”. British Broadcasting Corporation. BBC Sport. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  6. ^ Chia tay Quỷ đầu đàn!
  7. ^ bao gồm các giải đấu Siêu cúp Anh, Siêu cúp bóng đá châu Âu, Cúp bóng đá liên lục địa, Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ
  8. ^ “Gary Neville”. StretfordEnd.co.uk. Truy cập 24/10/2010.