Ghibli

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Studio Ghibli, Inc.
株式会社スタジオジブリ
Studio Ghibli.gif
Loại hình Hãng phim hoạt hình
Ngành nghề Truyền thôngGiải trí
Thành lập 1985
Trụ sở chính Nhật Bản
Thành viên
chủ chốt
Miyazaki Hayao
Takahata Isao
Sản phẩm Phim hoạt hình Nhật Bản (Anime)
Website www.ghibli.jp

Hãng phim hoạt hình Ghibli (tiếng Nhật: 株式会社スタジオジブリ, Kabushiki-gaisha Sutajio Jiburi, tiếng Anh: Studio Ghibli, Inc.) là một hãng phim hoạt hình Nhật Bản trước kia là một công ty con của Công ty xuất bản Tokuma Shoten. Studio Ghibli là hãng chỉ chuyên sản xuất phim anime chiếu trên cinema (Anime Movies), chứ không làm anime. Các bộ phim của hãng không chỉ nổi tiếng ở Nhật mà còn được đánh giá cao trên toàn thế giới.

Tên của hãng phim Ghibli có nguồn gốc từ biệt hiệu được những phi công Ý đặt cho những chiếc máy bay trinh sát sa mạc Sahara của họ trong Chiến tranh thế giới 2, biệt hiệu này xuất phát từ tên tiếng Libya của những cơn gió nóng thổi qua sa mạc Sahara (gió Sirocco). Ý nghĩa của cái tên này là hãng Ghibli sẽ thổi một luồng gió mới vào ngành công nghiệp anime của Nhật Bản. Biểu tượng của công ty là nhân vật Totoro trong bộ phim hoạt hình của Miyazaki Tonari no Totoro (Người bạn hàng xóm Totoro của tôi).

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng phim được thành lập năm 1985 bởi hai đạo diễn phim hoạt hình nổi tiếng Miyazaki HayaoTakahata Isao. Ý tưởng thành lập hãng phim được bắt đầu từ năm 1983 khi bộ phim Nausicaä của Thung lũng gió (Kaze no tani no Naushika) được hoàn thành bởi nhóm làm phim Topcraft, chính thành công của bộ phim này đã thúc đẩy sự ra đời của Ghibli. Ban đầu Tokuma là công ty mẹ của hãng phim và hãng này đã trao quyền phát hành toàn cầu của tất cả các tác phẩm của Ghibli chưa được phát hành ra thế giới trước đó cho hãng phim Disney, số phim này bao gồm cả các tác phẩm nổi tiếng nhất của Ghibli như Công chúa Mononoke (Mononoke Hime) hay Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn (Sen to Chihiro no Kamikakushi).

Nhạc sĩ Hisaishi Joe là người sáng tác nhạc cho tất cả các bộ phim của Miyazaki Hayao ở Ghibli.

Hãng phim có một mối liên hệ chặt chẽ lâu năm với tạp chí Animage nơi thường phát hành những bài báo đặc biệt về hãng phim và các thành viên của hãng trong một mục riêng Ghi chép về Ghibli. Các hình vẽ trong phim của Ghibli cũng thường được ưu tiên làm trang bìa của tạp chí.

Ghibli rất nổi tiếng với chính sách cứng rắn "không biên tập" khi bán bản quyền phim ra nước ngoài. Việc này nảy sinh từ việc lồng tiếng tệ hại cho bộ phim của Miyazaki Nausicaä của Thung lũng gió trong lần bộ phim được phát hành tại Mỹ dưới cái tên Những chiến binh gió. Khi đó bộ phim đã bị biên tập nặng nề và "Mỹ hóa" với việc viết lại cốt truyện và cắt đi nhiều phần quan trọng của phim. Một ví dụ tiêu biểu của chính sách "không biên tập" là khi đồng chủ tịch Harvey Weinstein của hãng Miramax đề nghị với Ghibli việc biên tập bộ phim Công chúa Mononoke cho hợp với thị trường Mỹ hơn trước khi phát hành. Để trả lời, một nhà sản xuất của hãng đã gửi đi một thanh kiếm Nhật (katana) thật và một thông báo ngắn gọn "Không cắt".[1]

Bộ phim mới nhất của Miyazaki Hayao tại Ghibli là Kaze Tachinu (風立ちぬ)- The Wind Ries (Nổi gió) được công chiếu ngày 20 tháng 7 năm 2013 tại Nhật Bản.

Đã có một bảo tàng chủ đề về các bộ phim của hãng Ghibli, đó là Bảo tàng Ghibli (tiếng Nhật: Mitaka no Mori Jiburi Bijutsukan). Nằm ở Mitaka thuộc Tokyo, bảo tàng trưng bày những hình ảnh trích từ các bộ phim của Ghibli, mô hình những nhân vật trong các bộ phim hoạt hình của hãng như chú robot trong Laputa: Lâu đài trên không trung, ngoài ra bảo tàng này cũng chiếu các bộ phim được Ghibli làm riêng để phục vụ khách tham quan.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng Ghibli được đánh giá là đầu đàn của ngành công nghiệp anime Nhật Bản. Các bộ phim của hãng vừa được đánh giá cao về mặt nghệ thuật, vừa đạt được doanh thu rất cao tại Nhật. Tính đến nay bộ phim Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn của hãng Ghibli vẫn đang là bộ phim ăn khách nhất Nhật Bản, bộ phim này đã phá vỡ kỉ lục về doanh thu được lập bởi Công chúa Mononoke cũng là một sản phẩm của hãng Ghibli.

Các tác phẩm lớn nhất của đạo diễn lừng danh Miyazaki đều được thực hiện tại hãng Ghibli. Bộ phim hoạt hình nổi tiếng và nhận được nhiều lời khen ngợi nhất của hãng mà không phải do Miyazaki đạo diễn có lẽ là Mộ đom đóm (Hotaru no haka), một sản phẩm của đạo diễn Takahata Isao, một tấn bi kịch của hai đứa trẻ mồ côi vào giai đoạn cuối Chiến tranh thế giới 2 ở Nhật Bản. Đây cũng là bộ phim duy nhất mà hãng Disney từ chối phát hành.

Theo bảng xếp hạng của trang web dữ liệu điện ảnh uy tín IMDB thì có tới 4 tác phẩm của hãng Ghibli (bằng với hãng phim hoạt hình nổi tiếng của Mỹ Pixar) nằm trong top 10 phim hoạt hình hay nhất trong đó có 3 phim của Miyazaki (Sen to Chihiro no kamikakushi, Mononoke-hime, Tonari no Totoro), 1 phim của Takahata (Hotaru no haka). Đặc biệt Sen to Chihiro no kamikakushi đứng đầu danh sách.[2]

Tác phẩm đã phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Phim hoạt hình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kaze no Tani no Nausicaä (tạm dịch: Nausicaä của Thung lũng gió, tiếng Anh: Nausicaä of the Valley of the Wind) (1984, trước khi thành lập Ghibli)
  • Laputa: Lâu đài trên không trung (tiếng Nhật:Tenkū no Shiro Rapyuta, tiếng Anh: Laputa: Castle in the Sky) (1986)
  • Mộ đom đóm (tiếng Nhật:Hotaru no Haka, tiếng Anh: Grave of the Fireflies ) (1988)
  • Tonari no Totoro (tiếng Nhật:Tonari no Totoro, tiếng Anh: My Neighbor Totoro ) (1988)
  • Majo no Takkyūbin (tạm dịch:Dịch vụ chuyển phát nhanh của phù thủy tiếng Anh: Kiki's Delivery Service) (1989)
  • Ngày hôm qua (tiếng Nhật:Omohide Poro Poro, tiếng Anh: Only Yesterday) (1991)
  • Kurenai no Buta (tiếng Anh: Porco Rosso) (1992)
  • Umi ga Kikoeru (tạm dịch: Sóng biển, tiếng Anh: Ocean Waves) (1993)
  • Pom Poko (tiếng Nhật:Heisei Tanuki Gassen Ponpoko, tiếng Anh: Pom Poko) (1994)
  • Lời thì thầm của trái tim (tiếng Nhật:Mimi wo Sumaseba, tiếng Anh: Whisper of the Heart) (1995)
  • Công chúa sói Mononoke (tiếng Nhật:Mononoke Hime, tiếng Anh: Princess Mononoke) (1997)
  • Gia đình nhà Yamada (tiếng Nhật:Hōhokekyo Tonari no Yamada-kun, tiếng Anh: My Neighbors the Yamadas) (1999)
  • Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn (tiếng Nhật:Sen to Chihiro no Kamikakushi, tiếng Anh: Spirited Away) (2001)
  • Neko no Ongaeshi (tạm dịch: Sự trả ơn của bầy mèo, tiếng Anh: The Cat Returns) (2002)
  • Lâu đài của Howl (tiếng Nhật:Hauru no Ugoku Shiro, tiếng Anh: Howl's Moving Castle) (2004)
  • Gedo Senki (tạm dịch: Huyền thoại của đất liền và đại dương, tiếng Anh: Tales from Earthsea) (2006)
  • Nàng tiên cá phương Đông (tiếng Nhật:Gake no Ue no Ponyo, tiếng Anh: Ponyo on the Cliff by the sea) (2008)
  • Karigurashi no Arrietty (tạm dịch: Cô bé vay mượn: Arrietty, Tiếng anh: The secret world of Arrietty;The borrower Arietty)(2010)
  • Kokuriko zaka kara (tạm dịch: Từ ngọn đồi hoa mĩ nhân, Tiếng anh: From Up On Poppy Hill)(2011)
  • Kaze Tachinu (tạm dịch: Ngọn gió không lặng, tiếng Anh:The wind rises)(2013)
  • Kaguya-hime no Monogatari (tạm dịch: Chuyện công chúa Kaguya)(2013)
  • Omoide no Marnie (When Marnie was There; tạm dịch: Khi Marnie ở đó)(2014)

Phim ngắn[sửa | sửa mã nguồn]

  • On Your Mark (1995) (đoạn phim minh hoạ cho bài hát của nhóm Chage & Aska)
  • Ghiblies (2000) (truyền hình)
  • Ghiblies phần 2 (2002) (chiếu kèm với bộ phim Sự trả ơn của bầy mèo)
  • Kusoh no Kikai-tachi no Naka no Hakai no Hatsumei (2002) (Chiếu tại bảo tàng Ghibli)
  • Koro no Daisanpo (2003)
  • Kujiratori (2003)
  • Mei to Konekobasu (2003)
  • Portable Airport (đoạn phim minh hoạ cho bài hát của nhóm Capsule) (2004)
  • Space Station No. 9 (đoạn phim minh hoạ cho bài hát của nhóm Capsule) (2004)
  • A Flying City Plan (đoạn phim minh hoạ cho bài hát của nhóm Capsule) (2005)
  • Doredore no Uta (đoạn phim ca nhạc quảng cáo cho Meiko Haigou) (2005)
  • Yadosagashi (2005)
  • Hoshi wo Katta Hi (2005)
  • Mizugumo Monmon (2005)
  • The Night of Taneyamagahara (2006)
  • Iblard Jikan (2007)

Phim tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sekai Waga Kokoro no Tabi (1998) (cuộc gặp gỡ giữa Takahata Isao và đạo diễn Frédéric Back ở Canada)
  • Sekai Waga Kokoro no Tabi (1999) (chuyến đi tìm hiểu cuộc đời Antoine de Saint-Exupéry của đạo diễn Miyazaki)
  • Otsuka Yasuo no Ugokasu Yorokobi (2004) (bộ phim tài liệu về nhà làm phim hoạt hình Otsuka Yasuo)
  • Miyazaki Hayao to Ghibli Bijyutsukan (2005) (giới thiệu về bảo tàng Ghibli của Miyazaki Goro và Takahata Isao)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]