Giàn khoan nửa chìm nửa nổi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giàn khoan bán tiềm thủy Deepsea Delta đang hoạt động ở Biển Bắc.
So sánh giữa giàn khoan bán tiềm thủy nước sâu và tàu khoan.

Giàn khoan nửa chìm nửa nổi, còn gọi là Giàn khoan bán tiềm thủy là một công trình nổi trên biển chuyên dụng để khoan thăm dò và khai thác dầu khí, có dạng bè mảng nửa chìm nửa nổi nên có khả năng tự ổn định tốt trong môi trường biển và đại dương. Giàn khoan này được sử dụng trong các môi trường biển đặc biệt như các giàn khoan xa bờ, tàu an toàn, giàn khai thác dầu và cẩu hạng nặng.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Khi khoan trong môi trường nước sâu hơn khoảng 120 m các hệ thống vận hành thường được lắp đặt trên một công trình nổi, vì các kết cấu cố định thì không khả thi. Vào đầu thập niên 1950, tàu monohull đã được sử dụng giống như CUSS I, nhưng dao động của nó theo các đợt sóng lớn tăng lên đáng kể, chính vì thế cần một kết cấu giàn khoan ổn định hơn.

Giàn khoan bán tiềm thủy đạt được những tiêu chí đấy do khả năng nổi của nó dựa trên các phao dằn chìm dưới mặt biển để tránh tác động của sóng. Kết cấu thượng tầng (̣phần nổi bên trên) có thể được điều chỉnh cao hơn mặt nước biển do khả năng ổn định của nó như đã được thiết kế, và do đó phần nổi được giữ ổn định khỏi tác động của sóng. Các cấu trúc cột liên kết các phao và phần nổi.[1]

Với một cấu trúc đồ sộ nằm ở một độ sâu cho trước dưới mực nước biển, giàn khoan bán tiềm thủy ít chịu tác động của áp lực sóng hơn tàu bình thường. Với một vùng mặt nước nhỏ, giàn khoan bán tiềm thủy nhạy cảm đối với các thay đổi về tải trọng, và do đó phải cẩn thận chọn chiều của lực để duy trì độ ổn định. Không giống như tàu ngầm hay submersible, trong khi vận hành bình thường, giàn khoan bán tiềm thủy không bao giờ chìm hoàn toàn trong nước.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản thiết kế của giàn khoan bán tiềm thủy được đưa ra lần đầu tiên cho các hoạt động khoan xa bờ. Bruce Collipp của Shell được xem là nhà phát minh ra nó.[2]

Giàn khai thác dầu xa bờ[sửa | sửa mã nguồn]

Khi khi khai thác mỏ dầu xa bờ, giàn khoan bán tiềm thủy được sử dụng với chức năng khoan và khai thác. Loại giàn khoan này tiết kiệm chi phí và rất ổn định. Giàn khai thác bán tiềm thủy nổi đầu tiên là Argyll FPF được chuyển từ giàn khoan bán tiềm thủy Transworld 58 vào năm 1975 sử dụng cho mỏ dầu Argyll Hamilton Brothers North Sea.

Khi ngành công nghiệp dầu khí vươn tới những vùng nước sâu hơn và trong môi trường khắc nghiệt, thì các giàn khai thác bán tiềm thủy chuyên dụng được thiết kế để đưa vào sử dụng. Giàn khai thác bán tiềm thủy chuyên dụng đầu tiên được sử dụng ở mỏ Balmoral, biển Bắc UK năm 1986.[3]

Dưới đây liệt kê tóm tắt một số giàn khai thác dầu bán tiếm thủy xa bờ.[4][5][6][7][8][9]

Loại tàu Mỏ Khu vực Độ sâu (m) Rẽ nước (Te) Cty vận hành Bắt đầu Thiết kế Xây dựng Ghi chú
Argyll FPU Mỏ dầu Argyll Biển Bắc thuộc UK 150 34.000 Agip 1975 Converted from Transocean 58 MODU. First semi-submersible production platform.[10]
Buchan A Mỏ dầu Buchan UK North Sea 160 18.995 Talisman 1981 Brown & Root Scott Lithgow Cải biến từ Drillmaster MODU cho BP
P-09 Mỏ dầu Corvina Brazil 230 22.896 Petrobras 1983 Aker Mitsui Cải biến Aker H-3e
P-15 Pirauna Brazil 243 21.616 Petrobras 1983 Mitsubishi Heavy Industries Mitsubishi Heavy Industries Cải biến thiết kế Mitsubishi MD-503
P-12 Mỏ dầu Linguado / Badejo Brazil 100 22.896 Petrobras 1984 Aker Mitsui, Nhật bản Thiết kế Aker H-3e
P-21 Mỏ dầu Badejo / Salema Brazil 112 10.765 Petrobras 1984 Earl & Wright Montreal Engineering, Rio de Janeiro Cải biến của gìn khoan Sedco Staflo
Deepsea Pioneer FPU Mỏ dầu Argyll & Duncan Biển Bắc UK 150 34.000 Agip 1984 Cải biến từ giàn khoan Deepsea Saga[11]
P-22 Morela Brazil 114 17.440 Petrobras 1986 Frede & Goldman Montreal Engineering Cải biến từ giàn khoan Sedco 135F
Balmoral FPV Mỏ dầu Balmoral (+4) Biển Bắc UK 150 30.983 Premier Oil 1986 GVA Götaverken, Sweden Giàn bán tiếm thủy dùng cho khai thác đầu tiên.
P-07 Mỏ dầu Bicudo Brazil 207 20.493 Petrobras 1988 Aker Raumer-Repola hay Ishibras Shipyard, Rio ? Cải biến từ giàn khoan Aker H-3 Bendoran
Veslefrikk B Mỏ dầu Veslefrikk Biển Na Uy 175 43.305 Statoil 1989 Aker Daewoo, Korea Cải biến từ giàn khoan West Vision. Giàn khoan nổi đầu tiên ở Na Uy.
AH001 Ivan Hoe Rob Roy Oil Field Biển Bắc UK 140 26.639 Amerada Hess 1989 Brown & Root Highland Fabricators, Nigg Cải biến từ tàu khoan Philips SS Sedco700
P-20 Marlim Brazil 625 25.983 Petrobras 1992 GVA Astileros, Tây Ban Nha Mẫu GVA4000. Cải biến từ giàn khoan Illiad do Nga sản xuất.
P-08 Mỏ dầu Marimba Brazil 423 20.990 Petrobras 1993 CENPES Tangenge, Niteroi, Brazil Cải biến từ giàn khoan Songa Star / Belford Dolphin
P-13 Mỏ dầu Bijupira / Salema Brazil 625 22.243 Queriz Galvao Perfuracoes 1993 CFEM UIE, Clydesbank ? Cải biến
P-14 Coral / Esrela / Caravela Oil Fields Brazil 195 22.243 Petrobras 1993 CFEM CFEM, Brazil ? Cải biến
P-18 Marlim Brazil 910 36.100 Petrobras 1994 GVA Tenege / FELS Mẫu GVA4500
Troll B FPU Troll gas field Norwegian Sea 339 188.968 Statoil 1995 Kvaerner/Doris Kvaerner Rosenberg Kết cấu bê tông.
Nan Hai Tiao Zhan Luihua South China Sea 300 0,000 CNOOC 1995 Reading & Bates Keppel FELS Cải biến từ giàn khoan Sedco700 West Stadrill cho Amoco
P-25 Mỏ dầu Albacora II Brazil 252 25.983 Petrobras 1996 CENPES Ultratec Cải biến giàn khoan Zapat-4000
P-27 Voador Brazil 533 41.659 Petrobras 1996 FELS / Obdebrecht Levingston Cải biến giàn khoan Penrod Pardill 71
Innovator Marlim Gulf of Mexico 914 0.000 ATP 1996 GVA
Tahara PY-3 Indian Ocean 339 55,000 Hardy oil and gas 1997 Earl & Wright Hup Seng Engineering Cải biến mẫu Sedco-135
Njord A Njord Oil Field Norwegian Sea 330 45.077 Statoil 1997 Aker Aker Verdal Thiết kế nguyên thủy cho Norsk Hydro dựa trên P-45 ?
P-19 Marlim Brazil 770 33,400 Petrobras 1997 IVI/Sadevegesa consortium Hitachi Zosen Cải biến từ giàn khoan Enchanced pacesetter.
Janice A Janice Oil Field UK North Sea 80 0,000 Anadarko 1999 Aker McNulty Cải biến từ tàu khoan Aker H3.2
Visund Visund Biển Na Uy 335 52.600 Statoil 1999 GVA Umoe Mandal Mẫu GVA8000
Troll C FPU Mỏ khí Troll Biển Na Uy 339 54.377 Statoil 1999 GVA HHI, S.Korea Mẫu GVA 8000
P-26 Marlim Brazil 515 27.656 Petrobras 2000 Astilleros Astilleros, Tây Ban Nha Tái sử dụng từ giàn P-20  ?
Åsgard B Åsgard Norwegian Sea 320 84,848 Statoil 2000 GVA Daewoo, S. Korea
P-36 Roncador Brazil Campos Basin 1,360 0,000 Petrobras 2000 SBM Atlantia Davie Shipbuilding, Canada Cải biến từ giàn khoan Spirit of Columbus và bị chìm năm 2001
Snorre B FDPU Mỏ dầu Snorre Biển Na Uy 350 56,600 Statoil 2001 Aker Dragados Thiết kế nguyên thủy cho Saga
P-51 Mỏ dầu Marlim Sul Brazil Campos Basin 1,255 80,114 Petrobras 2001 Aker Keppel FELS Mẫu Aker DDS
SS-11 Coral Brazil 145 0,000 Petrobras 2003 Breit Bethlehem Steel Cải biến
Nakika Kepler, Ariel, Fourier, Herschell & E. Anstey Gulf of Mexico 936 64,000 BP 2003 ABB Lumus HHI, S.Korea Được xây dựng cho Shell, nhưng BP vận hành
P-40 Marlim Sul Brazil 1,080 0,000 Petrobras 2004 PROJEMAR Jurong Cải biến từ giàn khoan DB-100
Kristin FPU Kristin Norwegian Sea 320 56,600 Statoil 2005 GVA Samsung, S. Korea
Atlantis PQ Atlantis Oil Field Gulf of Mexico 2,156 89,000 BP 2006 GVA DSME, S.Korea
ATP Innovator Gomez Oil Field Gulf of Mexico 914 46,160 ATP 2006 Levingston Levingston Cải biến từ giàn bán tiềm thủy Rowan Midland
Independence Hub 10 fields Gulf of Mexico 2,015 46,160 Anadarko 2007 SBM Atlantia Jurong Shipyard
P-52 Roncador Brazil 1,795 80,201 Petrobras 2007 GustoMSC Keppel FELS Aker DDS design
Thunder Horse PDQ Thunder Horse Oil Field Gulf of Mexico 1,849 130,000 BP 2008 GVA DSME, S.Korea Mẫu GVA40000, giàn bán tiềm thủy lớn nhất
Blind Faith Blind Faith Gulf of Mexico 1,980 40,000 ChevronTexaco 2008 Aker Aker Verdal Mẫu Aker DDS
Northern Producer FPF was at Galley Oil Field now atDon Oil Field UK North Sea 350 0,000 Petrofac 2009 Granhearne McNulty, Newcastle Tái sử dụng từ Emerald Producer FPU, cải biến từ tàu nguyên thủy Aker H-3 Alibaba năm 1989.
Thunder Hawk Thunder Hawk Gulf of Mexico 1740 42.000 Murphy 2009 SBM Atlantia Dyna-Mac Engineering Services Pte Ltd
Gjøa Gjøa Oil Field Norwegian Sea 360 58.400 Statoil 2010 Aker Samsung, S. Korea Do Gas de France vận hành
P-56 Marlim Sul Brazil 1,700 50,000 Petrobras 2010 Aker Keppel FELS Bản sao của giàn P-51. Mẫu Aker DDS được xây dựng ở Brazil.
Gumusut Kakap Pisigan, Malilai, Ubah Malaysia 1.220 40.000 Shell 2011 MMHE, Malaysia MMHE, Malaysia Giàn khai thác bán tiềm thủy đầu tiên ở Malaysia
P-55 Roncador Brazil 1.707 50.000 Petrobras 2012 Aker Atlantico Consortium Được xây dựng ở Brazil.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 2000Technology Pioneers. Oceanstaroec.com. Retrieved on 2010-12-30.
  2. ^ 1998 Industry Pioneers. Oceanstaroec.com. Retrieved on 2010-12-30.
  3. ^ *GVAC – GVA 5000. Gvac.se. Retrieved on 2010-12-30.
  4. ^ 2008 Worldwide Survey of Semi-FPSs and FPUs, September 2008, Offshore Magazine / Mustang Engineering
  5. ^ Industry Projects. Offshore Technology. Retrieved on 2010-12-30.
  6. ^ *GVAC – Floating production. Gvac.se. Retrieved on 2010-12-30.
  7. ^ [1][liên kết hỏng]
  8. ^ A Petrobras – RH. Petrobras. Retrieved on 2010-12-30.
  9. ^ Title Page for UK Petroleum Data CD. Databydesign.co.uk. Retrieved on 2010-12-30.
  10. ^ The dominance of the FPSO. Offshore Technology (2008-08-29). Retrieved on 2010-12-30.
  11. ^ Conversion Of The "Deepsea Pioneer", R.A. Bryans, Hamilton Brothers Oil & Gas Ltd., Offshore Technology Conference, 2–5 May 1988, Houston, Texas (5692-MS)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:ModernMerchantShipTypes