Giám định

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Giám định là công việc kiểm tra, đánh giá chung đối với hầu hết đối tượng. Giám định liên quan đến sự đo lường, kiểm tra, và các tiêu chuẩn đánh giá áp dụng để xác nhận chắc chắn các thông số kỹ thuật đặc trưng liên quan đến đối tượng giám định. Kết quả giám định thông thường được so sánh với các yêu cầu và các tiêu chuẩn đã đưa ra nhằm xây dựng mục tiêu đã định đối với đối tượng giám định.

Ví dụ như giám định không phá hủy kết cấu của vật chất hay giám định chất lượng sản phẩm tiêu dùng (như: bàn, ghế, tủ, giường, máy thiết bị).

Trong thương mại quốc tế, những quốc gia, người mua hàng hóa thường yêu cầu giám định hàng hóa trước khi xếp hàng lên tàu (PSI). Và việc giám định này thường được thực hiện bởi 1 bên thứ 3 (không phải là người bán hàng cũng không phải là người mua hàng).

Người giám định còn gọi là giám định viên (kỹ thuật viên) khi thực hiện vụ giám định cần phải chụp hình, báo cáo chi tiết kết quả bằng văn bản để chứng minh số lượng, chất lượng thực tế của hàng hóa.

Các công ty chuyên về giám định hiện tại ở Việt Nam khá phát triển sau khi Bộ Công thương quyết định xã hội hóa dịch vụ giám định thương mại. Một số công ty giám định về hàng tiêu dùng như: Vinacontrol Cert, Tuv, OPA Ltd, Intertek, Bureau Veritas, SGS... Tuy nhiên do chính phủ Việt Nam nói chung và Bộ Công thương nói riêng chưa có sự chuẩn bị tốt cho hoạt động xã hội hóa dịch vụ Giám định nên sau năm 2006 khi nhà nước cho phép các doanh nghiệp đăng ký hoạt động giám định thì nhiều vấn đề bất cập diễn ra. Điển hình như một số bất cập sau:

- Chưa có chuẩn quy định về Giám định viên do hiện nay mới chỉ quy định việc công nhận năng lực giám định viên do chính lãnh đạo của doanh nghiệp đó tự công nhận sau 3 năm học việc;

- Chuẩn nghiệp vụ giám định khi các giám định viên thực hiện công việc thì mỗi đơn vị có một quy định khác nhau, thông thường khi phân tích một chỉ tiêu thì các phòng thí nghiệm luôn có các phương pháp thử theo TCVN, JIS, ASTM, ISO... để thực hiện và các phương pháp này đã được thừa nhận rộng rãi cũng như có bằng chứng về phương pháp luận khoa học về độ tin cậy của phép thử, tất nhiên đối với các phương pháp thử không có tiêu chuẩn thì Phòng thí nghiệm cũng phải xây dựng phương pháp nội bộ nhưng phải có bằng chứng về việc phê duyệt phương pháp này. Còn đối với các phương pháp giám định thì hiếm có đơn vị nào thực hiện đặc biệt là các doanh nghiệp mới mở hiện nay.

- Việc giám định giống như công tác trọng tài đánh giá và việc công khác phương pháp là điều bắt buộc để cho các bên tự đánh giá được độ tin cậy của phương pháp, tuy nhiên đối với các tổ chức giám định hiện này thì thường không công bố phương pháp một cách chi tiết cho khách hàng. Một phần vì sợ bị lộ bí mật nghề nghiệp và một phần thì sợ chính những quy định chi tiết của mình ràng buộc bản thân khi thực hiện công việc hoặc phương pháp của mình không đủ độ tin cậy.

- Không có những ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý đối với các trường hợp kết quả giám định không có đủ độ tin cậy do bị ảnh hưởng bởi yếu tố chủ quan của giám định viên.

Với những yếu tố sơ bộ trên thì hiện tại bức tranh về giám định tại Việt Nam khá là lộn xộn cả về chất lượng và số lượng. Chỉ tính riêng cảng Hải phòng cũng có trên 60 tổ chức giám định. Hoạt động đánh giá thì cần nhất tính khách quan và chính xác. Tuy nhiên ở Việt Nam thì tính khách quan bị ảnh hưởng khá nhiều đặc biệt là các hoạt động đánh giá những công việc, dự án, sản phẩm mà sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Điều này một phần lớn đến từ chính sách và cách thức điều hành của quốc gia. Một quốc gia có chỉ số minh bạch thấp như ở Việt nam thì khó có thể trông chờ vào độ minh bạch các hoạt động đánh giá nói chung và hoạt động giám định nói riêng trong nó.

Đối với chính phủ, việc cần giám định nhằm mục đích an toàn thực phẩm và qui các chất lượng và phẩm chất hàng hóa tuân thủ theo những qui định và tiêu chuẩn đã đưa ra.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]