Giáp Văn Cương
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Thông tin trong bài (hay đoạn) này không thể kiểm chứng được do không được chú giải từ bất kỳ nguồn tham khảo nào. Xin bạn hãy cải thiện bài viết này bằng cách bổ sung chú thích tới các nguồn uy tín. Nếu bài được dịch từ Wikipedia ngôn ngữ khác thì hãy chuyển nguồn tham khảo từ phiên bản đó cho bài này. Nếu không, những câu hay đoạn văn không có chú giải nguồn gốc có thể bị thay thế hoặc xóa đi bất cứ lúc nào. |
Giáp Văn Cương (1921-1990) là một thượng tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam và là Đô đốc Hải quân duy nhất của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
[sửa] Tiểu sử
Giáp Văn Cương sinh năm 1921 tại xã Vô Tranh, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Tham gia hoạt động cách mạng chống Pháp, Nhật từ trước năm 1945.
Trong kháng chiến chống Pháp, ông đã từng giữ chức tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 19 (trung đoàn 96, liên khu V) và tham gia trận Đăkpơ (tháng 6 năm 1954).
Năm 1965, ông được cử làm sư đoàn trưởng, sư đoàn 3 quân khu V. Thời gian tiếp theo, ông tham gia thường vụ Đặc khu uỷ, Phó tư lệnh, Tham mưu trưởng mặt trận 44.
Năm 1974, ông được phong hàm thiếu tướng, chức phó tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Năm 1977, được phong làm tư lệnh quân chủng hải quân và giữ chức vụ này đến năm 1980. Năm 1984, ông một lần nữa lại được giao nhiệm vụ làm tư lệnh quân chủng hải quân. Năm 1988, ông được phong làm Đô đốc, thượng tướng. Cho đến nay, Quân đội Nhân dân Việt Nam chỉ có duy nhất ông được phong hàm đô đốc vì theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (1999) thì Phó Đô đốc là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân.
Giáp Văn Cương mất năm 1990 tại Hà Nội.
[sửa] Giải thưởng
- Huân Chương Độc Lập hạng nhất
[sửa] Xem thêm
| Bài này còn sơ khai. Bạn có thể góp sức viết bổ sung cho bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp để biết thêm về cách sửa đổi bài. |

