Giải Abel

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Giải Abel là giải thưởng được vua Na Uy trao hàng năm cho những nhà toán học xuất chúng.

Sự ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001 chính phủ Na Uy công bố kỷ niệm 200 năm ngày sinh nhà toán học Na Uy Niels Henrik Abel (1802) đánh dấu sự ra đời của một giải thưởng mới cho các nhà toán học, đặt tên là Abel. Mục đích của giải này là để lấp đi sự thiếu vắng giải Nobel trong toán học, mặc dù thỉnh thoảng huy chương Fields được xem là mang tính chất tương đương. Giải Abel được đi kèm với số tiền thưởng là 6 triệu tiền kroner Na-Uy, có giá trị (2010) tương đương với 740,000 € hoặc 992,000 USD.[1]

Hàng năm Viện hàn lâm khoa học và văn chương Na Uy công bố chủ nhân giải Abel sau một cuộc tuyển chọn do một hội đồng gồm 5 nhà toán học quốc tế tiến hành. Khoản tiền thưởng cùng với giải thường gần bằng một triệu đôla Mỹ, gần như giải Nobel (trao thưởng ở Thụy Điển và Na Uy nhưng không bao gồm toán học). Na Uy ban đầu cung cấp cho giải 200.000.000 NOK (khoảng 23.000.000 USD) làm quỹ trong năm 2001. Mục đích của giải là phổ biến toán học, làm cho môn khoa học này thêm uy tín, đặc biệt là dành cho những người trẻ tuổi.

Sophus Lie là người đầu tiên đề xướng việc thành lập giải Abel khi ông nhận ra kế hoạch của Alfred Nobel cho giải thưởng hàng năm (bắt đầu từ năm 1897), không có giải dành cho toán học. Vua Oscar II đã đồng ý tài trợ cho giải thưởng toán học mang tên Abel, và hai nhà toán học Ludwig Sylow và Carl Størmer đã phác thảo những quy chế và luật lệ cho giải. Tuy nhiên sự tan rã của liên hiệp giữa Thụy Điển và Na Uy năm 1905 đã kết thúc cố gắng đầu tiên để thành lập giải thưởng Abel.

Tháng 4 năm 2003, Jean-Pierre Serre được công bố là ứng viên đầu tiên nhận giải Abel, và đến tháng 6 tiếp đó giải đã được trao thưởng. Trước đó, ông Jean-Pierre Serre cũng đã từng là nhà toán học trẻ nhất từ trước đến nay được nhận giải thưởng Fields khi mới 28 tuổi.

Những người được giải[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Người đoạt giải Quốc tịch Lý do
2003 Jean-Pierre Serre  Pháp “vì đã đóng vai trò chủ chốt trong việc định hình các hình trạng hiện đại trong nhiều lĩnh vực Toán học bao gồm tô-pô, hình học đại sốlý thuyết số
2004 Michael F. Atiyah
Isadore M. Singer
 Anh Quốc
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ
“về những phát hiện và chứng minh định lý Atiyah–Singer, gắn kết tô-pô, hình họcgiải tích toán, và vai trò nổi bật của họ trong việc hình thành nên chiếc cầu mới giữa Toán họcVật lý lý thuyết
2005 Peter D. Lax  Hungary / Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ “cho những đóng góp to lớn về lý thuyết và ứng dụng của phương trình vi phân riêng phần và những tính toán nghiệm của chúng.”
2006 Lennart Carleson Flag of Sweden.svg Thụy Điển “cho những đóng góp nền tảng và sâu sắc về giải tích điều hoà và lý thuyết về hệ động lực trơn”
2007 S. R. Srinivasa Varadhan Flag of India.svg Ấn Độ / Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ “cho những đóng góp nền tảng cho lý thuyết xác suất và đặc biệt đã phát minh ra lý thuyết độ lệch lớn thống nhất”
2008 John G. Thompson
Jacques Tits
Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ;
 Bỉ /  Pháp
“cho những thành tựu lớn của họ trong đại số và đặc biệt trong sự định hình lên lý thuyết nhóm hiện đại”
2009 Mikhail Gromov  Nga /  Pháp "cho những sự đóng góp có tính cách mạng trong hình học"
2010 John Tate Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ "cho những tác động lớn và cuối cùng về lý thuyết số"
2011 John Milnor Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ "cho những khám phá tiên phong về tô-pô, hình học và đại số"
2012 Endre Szemerédi  Hungary "cho những đóng góp cơ bản về toán rời rạc và khoa học máy tính lý thuyết và sự công nhận về ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài của những đóng góp về lý thuyết số cộng tính và lý thuyết kết quả (ergodic theory)"
2013 Pierre Deligne  Bỉ "một nửa cho những đóng góp về hình học đại số và một nửa cho đóng góp tác động đến lý thuyết số, lý thuyết biểu diễn và các lĩnh vực liên quan"
2014 Yakov Sinai Cờ Hoa Kỳ Hoa Kỳ /  Nga "cho những đóng góp cơ bản liên quan đến các hệ động lực, lý thuyết ergodic, và vật lý toán"

Chú Thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]