Giải Balzan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Giải Balzan gồm 4 giải thưởng do Quỹ giải Balzan quốc tế trao hàng năm cho những người hoặc tổ chức có những đóng góp xuất sắc trong các lãnh vực nhân đạo, khoa học tự nhiên, văn hóa cũng như hòa bìnhtình hữu nghị.

Tiền thưởng và Tài sản vốn[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng năm, Quỹ chọn các lãnh vực thích đáng để trao các giải của năm sau, và quyết định số tiền của giải. Thường thì Quỹ loan báo các lãnh vực trao giải và danh sách những người hoặc tổ chức được đề cử vào tháng 5 hàng năm. Những người hoặc tổ chức đoạt giải sẽ được công bố trong tháng 9 năm sau. Từ năm 2001 tiền thưởng của mỗi giải đã tăng lên 1 triệu Franc Thụy Sĩ, với điều kiện phân nửa số tiền được sử dụng cho các dự án có các nhà nghiên cứu trẻ tham gia.

Ủy ban giải Balzan gồm 20 ủy viên thuộc các hội học giả có uy tín của châu Âu. Giải này được xếp hạng cao gần sát giải Nobel và là một trong các giải cao nhất về thành tựu khoa học, văn hóa và nhân đạo, tuy nhiên giải này ít được biết đến, mặc dù số tiền của giải Balzan năm 2004 lên tới 3 triệu dollar Mỹ, vượt quá số tiền của giải Nobel 1,3 triệu (theo tỷ giá hối đoái năm 2004).

Tiền vốn của Quỹ do người Ý Eugenio Balzan hiến tặng (1874–1953). Ông là đồng sở hữu chủ của nhật báo Corriere della Sera và đã đầu tư vốn ở Thụy Sĩ. Năm 1933 ông rời khỏi Ý để phản đối chủ nghĩa phát xít. Ông để lại tài sản thừa kế lớn cho con gái Angela Lina Balzan (1892–1956), người bị một căn bệnh mà thời đó không thể chữa lành. Trước khi qua đời, bà đã trao lại tài sản và chỉ thị cho quỹ, từ đó quỹ có 2 trụ sở: Ban quản lý Giải ở Milano (Ý) và Ban quản lý Quỹ ở Zürich (Thụy Sĩ).

Tiền thưởng của giải đầu tiên là 1 triệu Franc Thụy Sĩ, trao cho Quỹ giải Nobel năm 1961. Sau năm 1962, giải ngưng trao 16 năm, sau đó lại bắt đầu trao giải với số tiền nửa triệu franc Thụy Sĩ cho Mẹ Teresa. Lễ trao giải được cử hành luân phiên giữa thành phố Bern (Thụy Sĩ) và Accademia dei LinceiRoma (Ý). Những người đoạt giải sau đó thường cũng đoạt giải Nobel.

Các thể loại[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1978, bốn giải được trao hàng năm cho các thành tích trong các thể loại. Mọi giải đều do một ủy ban riêng quyết định :

Mỗi 3 tới 5 năm, Quỹ cũng trao “Giải vì nhân đạo, hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc”. Mới đây, năm 2005 giải này được trao cho Cộng đoàn Sant'Egidio.

Các người nổi tiếng đã đoạt giải[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nhân vật nổi tiếng đã đoạt giải là Giáo hoàng Gioan XXIII (1962), Paul Hindemith (1962), Jean Piaget (1979), Jorge Luis Borges (1980), Edward Shils (1983), Jan Hendrik Oort (1984), Otto E. Neugebauer (1986), Emmanuel Levinas (1989), Paul Ricoeur (1999), Abdul Sattar Edhi (2000), Eric Hobsbawm (2003) và Bruce A. Beutler (2007).

Danh sách người hoặc tổ chức đoạt giải[sửa | sửa mã nguồn]

2013[sửa | sửa mã nguồn]

2012[sửa | sửa mã nguồn]

2011[sửa | sửa mã nguồn]

2010[sửa | sửa mã nguồn]

  • Manfred Brauneck (Đức) --- History of theatre in all its aspects
  • Carlo Ginzburg (Ý) --- Lịch sử châu Âu (1400 - 1700)
  • Jacob Palis (Brasil) --- Toán học (thuần túy và ứng dụng)
  • Yamanaka Shin'ya (Nhật Bản) --- Tế bào gốc: Sinh học và Ưúng dụng tiềm năng

2009 - 2000[sửa | sửa mã nguồn]

2009[sửa | sửa mã nguồn]

2008[sửa | sửa mã nguồn]

2007[sửa | sửa mã nguồn]

2006[sửa | sửa mã nguồn]

2005[sửa | sửa mã nguồn]

2004[sửa | sửa mã nguồn]

2003[sửa | sửa mã nguồn]

2002[sửa | sửa mã nguồn]

2001[sửa | sửa mã nguồn]

2000[sửa | sửa mã nguồn]

1999 - 1990[sửa | sửa mã nguồn]

1999[sửa | sửa mã nguồn]

1998[sửa | sửa mã nguồn]

  • Andrzej Walicki (Ba Lan/ Mỹ) --- Lịch sử văn hóa, xã hội của thế giới Slavonic từ thời trị vì của Catherine the Great tới Cách mạng Nga năm 1917
  • Harmon Craig (Mỹ) --- Địa hóa học
  • Robert McCredie May (Anh / Úc) --- Đa dạng Sinh học

1997[sửa | sửa mã nguồn]

1996[sửa | sửa mã nguồn]

1995[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alan J. Heeger (Mỹ) --- Khoa học các vật liệu phi sinh học mới
  • Carlo M. Cipolla (Ý) --- Lịch sử kinh tế
  • Yves Bonnefoy (Pháp) --- Lịch sử nghệ thuật và Phê bình nghệ thuật (được áp dụng ở châu Âu từ thời Trung cổ tới ngày nay)

1994[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fred Hoyle (Anh) và Martin Schwarzschild (Đức / Mỹ) --- Vật lý thiên thể (tiến hóa của các ngôi sao)
  • Norberto Bobbio (Ý) --- Khoa học Luật và Chính trị (các chính phủ và nền dân chủ)
  • René Couteaux (Pháp) --- Sinh học (cấu trúc tế bào với quan hệ đặc biệt tới hệ thần kinh)

1993[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jean Leclant (Pháp) --- Nghệ thuật và Khảo cổ học của thế giới cổ đại
  • Lothar Gall (Đức) --- Lịch sử: các xã hội ở thế kỷ 19 và 20
  • Wolfgang H. Berger (Đức / Mỹ) --- Cổ sinh vật học với quan hệ đặc biệt tới Hải dương học

1992[sửa | sửa mã nguồn]

1991[sửa | sửa mã nguồn]

1990[sửa | sửa mã nguồn]

1989-1980[sửa | sửa mã nguồn]

1989[sửa | sửa mã nguồn]

1988[sửa | sửa mã nguồn]

1987[sửa | sửa mã nguồn]

1986[sửa | sửa mã nguồn]

1985[sửa | sửa mã nguồn]

1984[sửa | sửa mã nguồn]

1983[sửa | sửa mã nguồn]

1982[sửa | sửa mã nguồn]

1981[sửa | sửa mã nguồn]

1980[sửa | sửa mã nguồn]

< 1980[sửa | sửa mã nguồn]

1979[sửa | sửa mã nguồn]

1978[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mẹ Teresa Calcutta (Nam Tư) --- Nhân đạo, hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc

1962[sửa | sửa mã nguồn]

1961[sửa | sửa mã nguồn]

  • Quỹ Nobel (Thụy Điển) --- Nhân đạo, hòa bình và tình huynh đệ giữa các dân tộc

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]