Giải vô địch bóng đá các câu lạc bộ châu Á

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải vô địch bóng đá các câu lạc bộ châu Á
AFC Champions League crest.png
Năm bắt đầu 1967 (2002 trong giải hiện tại)
Khu vực Châu Á (AFC)
Số đội tham dự 32 (vòng chung kết)
Đương kim vô địch Úc Western Sydney Wanderers (lần đầu tiên)
Câu lạc bộ thành công nhất Hàn Quốc Pohang Steelers
(3 lần)
Soccerball current event.svg Mùa giải 2015

Giải vô địch bóng đá các câu lạc bộ châu Á (tiếng Anh: AFC Champions League) còn được biết đến với tên gọi Asian Champions League là giải bóng đá thường niên do Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) tổ chức cho các câu lạc bộ bóng đá vô địch quốc gia hoặc đoạt cúp quốc gia của 14 quốc gia châu Á.

Giải được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1967 với 8 đội bóng dưới tên gọi Asian Club Championship. Năm 1986, giải được đổi tên thành Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Á (Asian Champions Cup). Đội vô địch sẽ tranh Siêu cúp bóng đá châu Á với đội đoạt cúp Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Á (Asian Cup Winners Cup).

Năm 2002, Cúp các đội vô địch bóng đá quốc gia châu Á và Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Á hợp nhất tạo thành Giải vô địch bóng đá các câu lạc bộ châu Á.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

1967–2002: Mở đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu với tên gọi là Giải đấu vô địch các câu lạc bộ châu Á (Asian Champion Club Tournament), giải đấu đầu tiên diễn ra bằng các trận đấu loại trực tiếp đơn giản. Hai câu lạc bộ thành công nhất của kỷ nguyên này là Hapoel Tel AvivMaccabi Tel Aviv. Kết thúc mùa giải năm 1971, đánh dấu 14 năm của một giải đấu thiếu chuyên nghiệp và không có lợi nhuận. Vì vậy, giải đấu đã tạm ngừng tổ chức.

Trong năm 1985-1986 đánh dấu sự trở lại của giải đấu các câu lạc bộ hàng đầu châu Á với tên gọi Giải vô địch các câu lạc bộ châu Á (Asian Club Championship). Năm 1990, Liên đoàn bóng đá châu Á cho ra mắt giải đấu Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Á (Asian Cup Winners Cup, thường được gọi là Cúp C2 Châu Á), cùng với đó là mùa giải năm 1995 đánh dấu sự ra đời của Siêu Cup châu Á.

2002-nay: Kỷ nguyên Champions League[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2002/03 chứng kiến Giải vô địch các câu lạc bộ châu Á,Cúp C2 Châu Á và Siêu cúp bóng đá châu Á kết hợp để trở thành AFC Champions League. Vòng sơ loại theo thể thức trực tiếp sẽ lựa chọn ra 8 đội mạnh nhất cùng với 8 câu lạc bộ xuất sắc nhất từ hai khu vực phía đông và tây châu Á tiến vào Vòng bảng. Trong mùa giải đầu tiên dưới tên gọi AFC Champions League, Al Ain đánh bại BEC Tero với tỉ số 2-1 để trở thành nhà vô địch. Giải đấu sau đó đã bị hoãn lại một năm do virus SARS.

Giải đấu đã được tái ra mắt vào năm 2004 với 29 câu lạc bộ tới từ 14 quốc gia. Không giống như các năm trước, lịch thi đấu đã được thay đổi và diễn ra từ tháng 3 đến tháng 11. Trong giai đoạn đầu của giải, 28 câu lạc bộ được chia thành 7 nhóm, mỗi nhóm bao gồm 4 đội đến từ cùng một khu vực (Đông Á và Tây Á) để giảm chi phí đi lại, với các trận đấu vòng bảng diễn ra theo thể thức sân nhà và sân khách. Sau đó, 7 đội bóng đừng đầu mỗi nhóm cùng với đương kim vô địch là đội được đặc cách để vào vòng tứ kết. Các vòng tứ kết, bán kết và trận chung kết diễn ra cả lượt đi lượt về với luật bàn thắng trên sân khách , hiệp phụloạt sút luân lưu như loạt tie-break.

Mùa giải 2005, các câu lạc bộ của Syria bắt đầu tham gia vào giải đấu. Hai năm sau, đến lượt các câu lạc bộ của Úc cũng tham gia giải đấu khi Úc gia nhập Liên đoàn bóng đá châu Á vào năm 2006. Do sự thiếu chuyên nghiệp trong bóng đá tại châu Á, nhiều vấn đề vẫn còn tồn tại trong các giải đấu, chẳng hạn như về bạo lực sân cỏ hay chậm nộp đăng ký cầu thủ. Nhiều người đã đổ lỗi cho việc tiền thưởng ít cùng chi phí đi lại đắt đỏ như là một lý do.

Champions League năm 2009 mở rộng lên thành 32 câu lạc bộ với 10 giải đấu vô địch quốc gia hàng đầu châu Á sẽ có các câu lạc bộ được vào trực tiếp vòng bảng. Mỗi quốc gia sẽ có tối đa 4 đội tham dự, mặc dù không bằng một phần ba số đội tham gia tại giải đấu cao nhất của mỗi quốc gia, tuy nhiên điều này sẽ tùy thuộc vào giải vô địch của quốc gia đó, cấu trúc giải đấu (chuyên nghiệp), tiếp thị, tài chính, và các tiêu chuẩn khác do Ủy ban AFC Pro-League đưa ra mà sẽ đưa ra quyết định về số đội bóng được tham dự từ giải đấu đó. [1] Các tiêu chí đánh giá và xếp hạng giải đấu cho các quốc gia thành viên tham gia sẽ được điều chỉnh bởi AFC hai năm một lần. [2]

Giải thưởng đã được tăng lên đáng kể từ mùa giải 2009 và các câu lạc bộ có thể kiếm được một khoản tiền thưởng ngay cả ở vòng bảng tùy thuộc vào hiệu suất của họ. Phân nhóm được tiến hành theo cách thức giống như bốn giải đấu trước đó, tức là vẫn theo khu vực Đông và Tây Á với 4 bảng của mỗi khu vực. Vòng 16 đội vẫn tiến hành theo thể thức khu vực, tức là 4 đội nhất và 4 đội nhì trong cùng một khu vực sẽ tiến hành thi đấu một trận duy nhất để tìm ra 4 đội xuất sắc nhất của mỗi khu vực vào vòng tứ kết. Vòng tứ kết và bán kết sẽ diễn ra theo thể thức lượt đi và về còn trận trung kết sẽ diễn ra một trận duy nhất tại sân trung lập được lựa chọn từ trước.

Western Sydney Wanderers trở thành câu lạc bộ đầu tiên của Úc vô địch của AFC Champions League sau khi họ đánh bại Al Hilal 1-0 trong trận chung kết 2014.

Khuôn khổ giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Trình độ chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội tham dự tới từ 18 quốc gia thành viên AFC đã qua được vòng sơ loại của AFC Champions League. Việc phân chia các đội của các nước thành viên được liệt kê dưới đây; dấu sao là có ít nhất một đội bóng đã bị loại khi đá tại vòng sơ loại. 32 quốc gia của AFC đã từng có các diện tham gia, và các quốc gia chưa bao giờ có đội bóng đá tại vòng bảng không được hiển thị.

Quốc gia tham dự Mùa giải
2002/03 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015
Đông Á và Đông Nam Á
Úc Úc 2 2 2 2 2 3 1* 3 2*
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Trung Quốc 2 2 2 2 2 2 4 4 4 3 4 4 4
Indonesia Indonesia 0* 2 2 0 2 0 1* 1* 1* 0* 0 0 0*
Nhật Bản Nhật Bản 2 2 2 2 2 3 4 4 4 4 4 4 4
Hàn Quốc Hàn Quốc 2 2 2 2 3 2 4 4 4 4 4 4 4
Singapore Singapore 0* 0 0 0 0 0 1 1 0 0 0 0* 0*
Thái Lan Thái Lan 2 2 2 0 1 2 0* 0* 0* 1* 2 1* 1*
Việt Nam Việt Nam 0* 2 2 2 1 2 0 0* 0 0 0 0* 1*
Tổng cộng 8 12 12 8 13 13 16 16 15 15 15 16 16
Tây Á
Bahrain Bahrain 0* 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0* 0*
Iran Iran 2 2 2 2 1 2 4 4 4 3* 3* 4 4
Iraq Iraq 1* 2 2 2 2 2 0 0 0 0 0 0* 0
Kuwait Kuwait 0* 2 2 2 2 2 0 0 0 0 0 0* 0*
Qatar Qatar 1* 2 2 2 2 2 2 2 3 4 4 4 2*
Ả Rập Saudi Ả Rập Saudi 1* 2 3 3 2 2 4 4 4 3* 4 4 4
Syria Syria 0* 0 2 2 2 2 0 0* 0* 0 0 0 0
Turkmenistan Turkmenistan 1* 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất UAE 1* 3 2 2 2 2 4 4 4 4 4 3* 2*
Uzbekistan Uzbekistan 1* 2 2 2 2 2 2 2 2 3* 2* 1* 4
Tổng cộng 8 17 17 17 15 16 16 16 17 17 17 16 16
Tổng cộng
Chung kết 16 29 29 25 28 29 32 32 32 32 32 32 32
Tứ kết 53 29 29 25 28 29 35 37 36 37 35 47 49

Hồ sơ và số liệu thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Đội vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Số lần vô địch Số lần giành Á quân Năm vô địch Năm giành Á quân
Hàn Quốc Pohang Steelers 3 0 1996–97, 1997–98, 2009 -
Ả Rập Saudi Al-Hilal 2 3 1991, 1999–2000 1986, 1987, 2014
Iran Esteghlal 2 2 1970, 1990-91 1991, 1998-99
Hàn Quốc Seongnam FC 2 2 1995, 2010 1996–97, 2004
Ả Rập Saudi Al-Ittihad Jeddah 2 1 2004, 2005 2009
Qatar Al Sadd 2 0 1988–89, 2011 -
Hàn Quốc Suwon Samsung Bluewings 2 0 2000–01, 2001–02 -
Thái Lan Ngân hàng Nông nghiệp Thái Lan1 2 0 1993–94, 1994–95 -
Israel Maccabi Tel Aviv2 2 0 1969, 1971 -
Nhật Bản Júbilo Iwata 1 2 1998–99 1999–2000, 2000–01
Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors 1 1 2006 2011
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Ain 1 1 2002–03 2005
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Liêu Ninh Hoành Vận 1 1 1989–90 1990–91
Israel Hapoel Tel Aviv2 1 1 1967 1970
Úc Western Sydney Wanderers 1 0 2014
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo 1 0 2013 -
Hàn Quốc Ulsan Hyundai 1 0 2012 -
Nhật Bản Gamba Osaka 1 0 2008 -
Nhật Bản Urawa Red Diamonds 1 0 2007 -
Iran PAS Tehran1 1 0 1992–93 -
Nhật Bản Tokyo Verdy 1 0 1987 -
Nhật Bản JEF United Chiba 1 0 1986 -
Hàn Quốc Busan IPark 1 0 1985–86 -
Hàn Quốc FC Seoul 0 2 - 2001–02, 2013
Ả Rập Saudi Al-Ahli 0 2 - 1985–86, 2012
Iran Zob Ahan Isfahan 0 1 - 2010
Úc Adelaide United 0 1 - 2008
Iran Sepahan 0 1 - 2007
Syria Al-Karamah 0 1 - 2006
Thái Lan BEC Tero Sasana 0 1 - 2002–03
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Đại Liên Thực Đức1 0 1 - 1997–98
Ả Rập Saudi Al-Nassr 0 1 - 1995
Qatar Al-Arabi 0 1 - 1994–95
Oman Oman Club 0 1 - 1993–94
Ả Rập Saudi Al-Shabab 0 1 - 1992–93
Nhật Bản Yokohama F. Marinos 0 1 - 1989–90
Iraq Al-Karkh 0 1 - 1988–89
Iraq Al-Shorta 0 1 - 1971
Hàn Quốc Yangzee1 0 1 - 1969
Malaysia Selangor 0 1 - 1967
1 Câu lạc bộ không còn tồn tại
2 Năm 1974, Hiệp hội bóng đá Israel bị khai trừ khỏi AFC do áp lực chính trị, và đã trở thành một thành viên đầy đủ của UEFA trong năm 1994. Kết quả là, các câu lạc bộ của Israel không còn tham gia vào các giải đấu AFC nữa.

Quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng danh sách các quốc gia xếp theo số lượng câu lạc bộ của quốc gia đó vô địch và ở vị trí á quân ở AFC Champions League.

Quốc gia Đội vô địch Á quân
 Hàn Quốc 10 5
 Nhật Bản 5 3
 Ả Rập Saudi 4 7
 Iran 3 4
 Israel 3 1
 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2 2
 Thái Lan 2 1
 Qatar 2 1
Flag of the United Arab Emirates.svg Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất 1 1
 Iraq 0 2
 Úc 0 1
 Malaysia 0 1
 Oman 0 1
 Syria 0 1

Vua phá lưới[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là danh sách những cầu thủ ghi được nhiều bàn thắng nhất trong giải (tính từ 2002 - nay):

Mùa giải Tên cầu thủ Câu lạc bộ Số bàn thắng
2002-03 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hách Hải Đông Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Đại Liên Hoành Vận 9
2004 Hàn Quốc Kim Do-Hoon Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma 9
2005 Sierra Leone Mohamed Kallon Ả Rập Saudi Al-Ittihad 6
2006 Brasil Magno Alves Nhật Bản Gamba Osaka 9
2007 Brasil Mota Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma 7
2008 Thái Lan Nantawat Thansopa Thái Lan Ngân hàng Nông nghiệp Thái Lan 9
2009 Brasil Leandro Nhật Bản Gamba Osaka 10
2010 Brasil Jose Mota Hàn Quốc Suwon Samsung Bluewings 9
2011 Hàn Quốc Lee Dong-Gook Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors 9
2012 Brasil Ricardo Oliveira Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al Jazira 10
2013 Brasil Muriqui Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Quảng Châu Hằng Đại Đào Bảo 13
2014 Ghana Asamoah Gyan Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Al-Ain 12

Giải Fair Play[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Câu lạc bộ
2008 Nhật Bản Gamba Osaka
2009 Hàn Quốc Pohang Steelers
2010 Hàn Quốc Seongnam Ilhwa Chunma
2011 Hàn Quốc Jeonbuk Hyundai Motors
2012 Hàn Quốc Ulsan Hyundai
2013 Hàn Quốc FC Seoul
2014 Ả Rập Saudi Al-Hilal FC


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]