Giảo cổ lam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gynostemma pentaphyllum
Jiaogulan.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Cucurbitales
Họ (familia) Cucurbitaceae
Phân họ (subfamilia) Zanonioideae
Phân tông (subtribus) Gomphogyninae
Chi (genus) Gynostemma
Loài (species) G. pentaphyllum
Danh pháp hai phần
Gynostemma pentaphyllum
(Thunb.) Makino 1902

Giảo cổ lam (tiếng Trung: 絞股藍) hay còn gọi là dây lõa hùng, trường sinh thảo hoặc thất diệp đảm (七葉膽), ngũ diệp sâm (五葉蔘) với danh pháp khoa học là Gynostemma pentaphyllum thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae).

Nó là một loài cây thảo có thân mảnh, leo nhờ tua cuốn đơn ở nách lá. Cây đực và cây cái riêng biệt. Lá đơn xẻ chân vịt rất sâu trông như lá kép chân vịt. Cụm hoa hình chuỳ mang nhiều hoa nhỏ màu trắng, các cánh hoa rời nhau xoè hình sao, bao phấn dính thành đĩa, bầu có 3 vòi nhuỵ. Quả khô hình cầu, đường kính 5 – 9 mm, khi chín màu đen. Cây mọc ở độ cao 200 - 2.000 m, trong các rừng thưa và ẩm ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Triều Tiên và một số nước châu Á khác.

Thành phần hóa học chính của thất diệp đảm là flavonoit và saponin. Số sapoin của thất diệp đảm nhiều gấp 3 - 4 lần so với nhân sâm. Trong đó, một số có cấu trúc hoá học giống như cấu trúc có trong nhân sâm (ginsenozit). Ngoài ra thất diệp đảm còn chứa các vitamin và các chất khoáng như selen, kẽm, sắt, mangan, phốtpho...

Thất diệp đảm là cây thuốc đã được dùng theo y học cổ truyền Trung Quốc. Người Trung Quốc từ lâu xem cây này như thuốc trường sinh, bởi lẽ người dân ở tỉnh Quý Châu uống trà thất diệp đảm thường xuyên thì sống rất thọ[1][2]. Cây này còn được gọi là nhân sâm phương Nam hay nhân sâm 5 lá, mặc dù thực tế loài này không có họ hàng gì với nhân sâm đích thực. Cây này cũng được dùng ở Nhật Bản với tên amachazuru, ở Hàn Quốc với tên gọi dungkulcha và nhiều nước khác.

Ở Việt Nam, vào năm 1997 giáo sư Phạm Thanh Kỳ (Đại học Dược Hà nội) đã phát hiện cây thất diệp đảm trên núi Phan Xi Păng và được giáo sư Vũ Văn Chuyên (Đại học Dược Hà nội) xác định đúng là loại Gynostemma pentaphyllum. Ngoài ra, thất diệp đảm còn được tìm thấy ở một số địa phương thuộc vùng đồi núi phía Bắc.

Độc tính[sửa | sửa mã nguồn]

Không giống như phần lớn các loài trong họ Cucurbitaceae, giảo cổ lam không thể hiện là có độc tính[3][4]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Winston, David; Steven Maimes (tháng 4 năm 2007). Adaptogens: Herbs for Strength, Stamina, and Stress Relief. Healing Arts Press. ISBN 978-1-59477-158-3.  Contains a detailed herbal monograph on jiaogulan and highlights health benefits.
  2. ^ Bensky, Dan; Andrew Gamble, Steven Clavey, Erich Stöger (tháng 9 năm 2004). Chinese Herbal Medicine: Materia Medica, 3rd Edition. Eastland Press. ISBN 978-0-939616-42-8. 
  3. ^ Attawish A, Chivapat S, Phadungpat S, Bansiddhi J, Techadamrongsin Y, Mitrijit O, Chaorai B, Chavalittumrong P (9-2004). “Chronic toxicity of Gynostemma pentaphyllum”. Fitoterapia 75 (6): 539–51. doi:10.1016/j.fitote.2004.04.010. 
  4. ^ Choi HS, Park MS, Kim SH, Hwang BY, Lee CK, Lee MK (2010). “Neuroprotective effects of herbal ethanol extracts from Gynostemma pentaphyllum in the 6-hydroxydopamine-lesioned rat model of Parkinson's disease” (PDF). Molecules 15 (4): 2814–24. doi:10.3390/molecules15042814. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • David Winston & Steven Maimes. "ADAPTOGENS: Herbs for Strength, Stamina, and Stress Relief," Healing Arts Press, 2007. Contains a detailed herbal monograph on Jiaogulan and highlights health benefits.

Giảo cổ lam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Gynostemma pentaphyllum tại Wikimedia Commons