Giấy viết

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Giấy viết là loại giấy không tráng phủ bề mặt, có mức độ gia keo phù hợp với việc dùng các loại bút mực để viết. Giấy viết thường được làm từ bột giấy hóa học tẩy trắng và các loại bột giấy tẩy trắng khác như bột giấy cơ học, bột giấy bán hóa học...

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Giấy#Lịch sửThái Luân

Ứng dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Mục đích chính của giấy viết là đảm bảo khả năng viết và khả năng đọc tốt. Khả năng viết yêu cầu giấy phải bắt mực. Để đọc được, giấy phải cho nét viết rõ ràng, không bị lem, nhòe, giữ nét mực được đủ lâu, có độ tương phản với màu mực. Nếu màu mực là sẫm thì giấy càng sáng, nét viết càng dễ nhận; nếu màu mực viết là sáng thì giấy phải có màu sẫm và ngược lại. Ví dụ, các loại giấy màu sẫm như màu đỏ, màu đen, màu xanh đen thường được viết với các loại mực màu trắng đục hoặc màu phát quang.

Hiện tượng lem, nhòe nét là hiện tượng giọt mực (cả chất bột tạo màu và dung môi của mực) thấm vào bề mặt và lớp dưới bề mặt giấy, loang ra to hơn kích cỡ mong muốn của nét viết. Nguyên nhân thường là do:

  • Bề mặt giấy không nhẵn
  • Có nhiều lỗ hổng trên bề mặt và bên trong kết cấu liên kết sơ sợi (thường là sợi dài)
  • Bên trong tế bào sợi có những lỗ hỏng nhỏ (lumen) có tính ưa nước

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chuẩn kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Kích cỡ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Khổ giấy

Chỉ tiêu cơ, lý, hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ tiêu kỹ thuật giấy viết Việt Nam


Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]