Girls & Peace

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Girls' Generation II:
Girls & Peace
Album phòng thu của Girls' Generation
Phát hành 28 tháng 11, 2012
Thu âm Tháng 4 – tháng 10, 2012
Thể loại J-pop, electropop, dance-pop
Thời lượng 40:45
Ngôn ngữ Tiếng Nhật
Hãng đĩa Nayutawave, Universal Music
Sản xuất Koike Kazuhiko (chỉ đạo), Kenzie, Dapo Torimiro, DEEKAY, Trinity, Charlie Mason, Miles Walker, Dsign Music, Sebastian Thott, Allan Eshuijs, Kalle Engstrom, Erik Nyholm, Patrick Hamilton, OZGO
Thứ tự album của Girls' Generation
Twinkle
(2012)
Girls' Generation II: Girls & Peace
(2012)
I Got a Boy
(2013)
Đĩa đơn từ Girls' Generation II: Girls & Peace
  1. "Paparazzi"
    Phát hành: 27 tháng 6, 2012
  2. "Oh! / All My Love Is For You"
    Phát hành: 26 tháng 9, 2012
  3. "Flower Power"
    Phát hành: 21 tháng 11, 2012

Girls' Generation II: Girls & Peace (cách điệu: GIRLS' GENERATION II ~Girls & Peace~) là album tiếng Nhật thứ hai của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Girls' Generation, được phát hành vào ngày 28 tháng 11 năm 2012 bởi Nayutawave Records. Girls & Peace là album đầu tiên có mặt cả 9 thành viên kể từ khi album tiếng Hàn thứ ba của họ "The Boys" ra mắt vào năm 2011. Trong khoảng thời gian đó, các thành viên hoạt động cá nhân, đồng thời nhóm nhỏ đầu tiên của nhóm, TaeTiSeo, cũng được thành lập. Tiếp nối phong cách chịu ảnh hưởng nhạc điện tử của album tiếng Nhật đầu tiên, Girls & Peace có sự đóng góp của nhiều nhà sản xuất như Kenzie, Miles Walker, DeekayDapo Torimiro. Album này bán được hơn 116,000 bản trong tuần đầu tiên, lọt vào vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Oricon và đã được chứng nhận Bạch kim bởi RIAJ.

Ba đĩa đơn đã được phát hành trước khi album ra mắt, trong đó "Paparazzi" đứng đầu bảng xếp hạng Japan Hot 100, "Oh! / All My Love Is For You" đứng đầu bảng xếp hạng Oricon còn "Flower Power" đạt vị trí thứ 6 trên Japan Hot 100 và thứ 5 trên Oricon. Girls' Generation quảng bá cho Girls & Peace cũng như các đĩa đơn tại nhiều chương trình âm nhạc và tạp kỹ như Hey! Hey! Hey! Music ChampMusic Lovers cũng như tour diễn Second Japan Arena Tour bắt đầu từ tháng 2 năm 2013.

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 5 năm 2012, trong một bài phỏng vấn với Elle Korea, thành viên Jessica cho biết nhóm đang trong quá trình thực hiện album, "Album tiếng Nhật của chúng tôi sẽ được ra mắt vào nửa cuối năm nay. Chúng tôi đang làm việc rất chăm chỉ."[1] Tháng 8 năm 2012, Universal Music, công ty mẹ của Nayutawave Records, công bố doanh thu theo quý và cho biết Girls' Generation là một trong những nghệ sĩ được kỳ vọng sẽ làm tăng doanh thu nửa cuối năm 2012.[2] Ban đầu nhóm dự định quay trở lại ở Hàn Quốc vào khoảng tháng 10 và tháng 11,[3] tuy nhiên, kế hoạch này đã bị hủy bỏ để tập trung quảng bá ở Nhật trong suốt phần còn lại của năm 2012.[4][5]

Phát hành và quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Việc phát hành album cũng như danh sách bài hát được chính thức công bố vào ngày 1 tháng 11 năm 2012.[6] Những hình ảnh đầu tiên của album được ra mắt trên tờ Sankei Sports, trong đó nhóm mang những trang phục của tiếp viên hàng không.[6] Girls' Generation II: Girls & Peace được phát hành vào ngày 28 tháng 11 năm 2012[7] với 3 phiên bản: phiên bản thông thường chỉ chứa các bài hát trong album,[8] phiên bản DVD có thêm 32 trang sách ảnh và một đĩa DVD với video của các đĩa đơn trong album,[9] cũng như phiên bản First Press, bao gồm bộ đồ trang điểm, sổ tay du lịch kèm ảnh dán, bộ áp phích gấp của 9 thành viên, 40 trang sách ảnh và một đĩa DVD với 7 video ("Paparazzi", "Oh!", "All My Love is for You", "Flower Power", hai phiên bản vũ đạo của "Paparazzi", "Oh!" và "Flower Power").[10]

Nhóm quảng bá cho album trên Hey! Hey! Hey! Music Champ với các màn biểu diễn "Oh!", "Mr. Taxi và "All My Love is for You".[11] Girls' Generation cũng cùng các nghệ sĩ khác trong SMTown biểu diễn tại Tokyo Dome trước 100,000 khán giả trong hai ngày 4 và 5 tháng 8 năm 2012.[12] Ngày 30 tháng 9 năm 2012, họ biểu diễn "Oh!" trên Count Down TV, đồng thời ghi hình trước một tiết mục cho Music Japan của NHK-TV trước khi đĩa đơn này được phát hành, màn biểu diễn này ban đầu được lên lịch phát sóng vào ngày 30 tháng 9, nhưng do một cơn bão nên đã bị lùi lại đến ngày 6 tháng 10 năm 2012.[13] Ngoài ra, nhóm còn ghi hình các màn biểu diễn "Oh!", "All My Love is for You" và "Mr. Taxi" cho chương trình Music Lovers của Nihon TV, phát sóng vào ngày 8 tháng 10 năm 2012.[14] Hoạt động quảng bá cho "Oh!" còn bao gồm một chương trình trực tuyến đặc biệt được phát sóng trên 3 trang web âm nhạc của Nhật trong 3 đêm liên tiếp: 25, 26 và 27 tháng 9 năm 2012.[15]

Ngày 13 tháng 11 năm 2012, nhóm biểu diễn "Flower Power" trên Kayou Kyoku[16] đồng thời tổ chức một cuộc họp fan với 10,000 người tham dự tại sân vận động quốc gia Yoyogi.[17] Ngày 19 tháng 11 năm 2012, trang web Dommune tổ chức một cuộc trò chuyện trực tiếp với một số nhà phê bình âm nhạc, đồng thời cho khán giả nghe thử các bài hát trong Girls & Peace.[18]

Second Japan Arena Tour[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Second Japan Arena Tour

Tháng 8 năm 2012, trang web chính thức của Girls' Generation tại Nhật thông báo rằng nhóm sẽ khởi động tour diễn thứ hai tại Nhật vào năm 2013. Lịch trình của tour diễn được công bố vào tháng 9, bao gồm 14 buổi diễn tại 6 thành phố, trong đó có 6 đêm tại Saitama Super Arena.[19] Tour diễn bắt đầu vào ngày 9 tháng 2 năm 2013 tại Kobe.[20]

Doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Girls' Generation II: Girls & Peace đạt vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng album hàng ngày của Oricon với 46,031 bản, chỉ đứng sau Mr. Children, ban nhạc gạo cội của Nhật.[21] Album bán được 116,963 bản trong tuần đầu tiên, lọt vào vị trí thứ ba trên xếp hạng album hàng tuần của Oricon. Ngoài ra album còn xuất hiện trong bảng xếp hạng Top Albums của Billboard Japan ở vị trí thứ ba.[22] "Girls & Peace" đã được RIAJ chứng nhận đĩa Bạch kim với 250,000 bản được gửi tới các nhà bán lẻ.[23]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

"Paparazzi" được phát hành với vai trò là đĩa đơn mở đường cho album vào ngày 26 tháng 6 năm 2012.[24] Bài hát xuất hiện lần đầu tiên trên bảng xếp hạng Japan Hot 100 ở vị trí đầu bảng và đạt thứ hạng cao nhất ở vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon với 92,000 bản trong tuần đầu tiên. "Paparazzi" cũng được phát hành tại Hàn Quốc vào ngày 16 tháng 8 năm 2012.[25]

"Oh! / All My Love Is For You" là đĩa đơn thứ hai, được phát hành vào ngày 26 tháng 9 năm 2012,[26] bao gồm phiên bản tiếng Nhật của "Oh!" và một bài hát mới tên là "All My Love is for You".[27] "Oh! / All My Love is for You" đạt vị trí đầu bảng trên cả Japan Hot 100 lẫn bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon.[28]

"Flower Power", đĩa đơn thứ ba của album, được phát hành vào ngày 21 tháng 11 năm 2012,[29] thay vì ngày 14 tháng 11 như dự kiến do một số vấn đề trong khâu sản xuất.[30] Đĩa đơn này còn bao gồm một bài hát B-side tên là "Beep Beep" không xuất hiện trong album cũng như "Girls' Generation II Smash Up."[31] Đĩa đơn này đạt vị trí thứ 6 trên Japan Hot 100 và thứ 5 trên bảng xếp hạng hàng tuần của Oricon.[21][32]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

CD[33]
STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Flower Power"   Johan Gustafson, Fredrik Häggstam, Sebastian Lundberg, Nasa Aprisia Florida Junji Ishiwatari Trinity 3:18
2. "Animal"   Hank Solo, Tom Aeio, Erik Nyholm, Eric Palmqwist, Zainnudin Erik Nyholm 3:08
3. "I'm a Diamond"   Dapo Torimiro, Priscilla Hamilton, H.U.B. Dapo Torimiro 2:56
4. "Reflection"   Lars Halvor Jensen, Martin Michael Larsson, Zac Poor DEEKAY 3:50
5. "Stay Girls"   Sebastian Thott, Andreas Oberg, Melanie Fontana, Kenn Kato Sebastian Thott 3:20
6. "T.O.P"   Heidi Rojas, Allan Eshuijs, Kalle Engstrom Allan Eshuijs, Kalle Engstrom 3:37
7. "Boomerang"   Charlie Mason, Oscar Gorres & Danny Saucedo OZGO 2:50
8. "Oh!" (phiên bản tiếng Nhật) Kenzie, Nozomi Maezawa, Kim Jungbae, Kim Younghu Kenzie 3:09
9. "All My Love is for You"   Junji Ishiwatari, Sebastian Thott, Didrik Thott, Robin Lerner Sebastian Thott 3:43
10. "Paparazzi"   Fredrik Thomander, Johan Becker, Junji Ishiwatari Miles Walker 3:47
11. "Girls & Peace"   Anne Judith Wik, Ronny Svendsen, Nermin Harambasic, Robin Jenssen Dsign Music 3:27
12. "Not Alone"   Erik Nyholm, Patrick Hamilton Erik Nyholm, Patrick Hamilton 3:31
Tổng thời lượng:
40:45

Bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Oricon[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Thứ hạng
cao nhất
Doanh số
ra mắt
Tổng doanh số
Hàng ngày[21] 2 46,031 198,107
Hàng tuần[35] 3 116,963
Hàng tháng[36] 6
Hàng năm[37] 41 141,259

Billboard[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Thứ hạng
cao nhất
Japan Top Albums[22] 3

Doanh số và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Doanh số
Oricon 198,107+[38][39]
RIAJ Bạch kim (250,000)[23]

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Định dạng Ngày Hãng đĩa Phiên bản
Nhật Bản[40] CD, tải về trực tuyến 28 tháng 11, 2012 Nayutawave Records Deluxe First Press, First Press, thông thường
Anh[33] Tải về trực tuyến Universal Music Thông thường
Đài Loan[41] CD 7 tháng 12, 2012 First Press, thông thường
Hồng Kông 21 tháng 12, 2012 First Press, thông thường
Thái lan 31 tháng 1, 2013 First Press
Philippines 11 tháng 2, 2013 MCA Music First Press

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Jessica Talks About Herself in ‘Elle Korea’ Magazine”. soshified.com. 22 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012. 
  2. ^ Ed Christman (30 tháng 8 năm 2012). “Universal Music Group Reports Quarterly Revenue Gain”. billboard.biz. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  3. ^ jennywill (5 tháng 11 năm 2012). “Girls' Generation Will Not Be Having a Korean Comeback This Year”. allkpop.com. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ 김상호기자 (5 tháng 11 năm 2012). “[단독]소녀시대, 2012 가요계에서는 못본다” (bằng tiếng Hàn). news.sportsseoul.com. Truy cập ngày 5 tháng 11 năm 2012. 
  5. ^ “Girls' Generation (SNSD) to Focus on Japan Promotions until End of this Year”. kpopstarz.com. 5 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  6. ^ a ă “소녀시대, 미녀 승무원 ‘단체 변신’…각선미로 올킬!” (bằng tiếng Hàn). 1 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  7. ^ “タイトル未定(豪華初回限定盤)(DVD付) [CD+DVD]” (bằng tiếng Nhật). amazon.co.jp. 2 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  8. ^ “Girls' Generation II – Girls & Peace – (Regular Edition)”. CD Japan. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  9. ^ a ă “Girls' Generation II – Girls & Peace – (w/ DVD, Limited Edition / Type B)”. CD Japan. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  10. ^ “GIRLS' GENERATION II – Girls & Peace – (ALBUM+DVD+GOODS)(Deluxe First Press Limited Edition)(Japan Version)”. YesAsia. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  11. ^ “Girls’ Generation Performs ‘Oh!’, ‘MR. TAXI’, and ‘All My Love Is For You’ on ‘HEY!HEY!HEY! Music Champ’”. soshified.com. 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  12. ^ “SM Town Attracted 100,000 People at a Concert in Tokyo Dome”. KBS Global News. 7 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2012. 
  13. ^ “Girls’ Generation Performs ‘Oh!’ on ‘MUSIC JAPAN’”. soshified.com. 6 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2012. 
  14. ^ “Girls’ Generation Performs ‘Oh!’, ‘MR. TAXI’, and ‘All My Love Is For You’ on ‘Music Lovers’”. soshified.com. 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2012. 
  15. ^ “少女時代Special Programがwebで続々決定!”. sonejapan.net.net. 24 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2012. 
  16. ^ bhost909 (14 tháng 11 năm 2012). “Girls’ Generation Performs ‘FLOWER POWER’ on ‘Kayou Kyoku’ and Releases ‘FLOWER POWER’ Single on iTunes Japan”. soshified.com. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  17. ^ “少女時代、1万人に新曲初披露 ファンの"完コピ"に大感激” (bằng tiếng Nhật). 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  18. ^ “TALK LIVE 「少女時代 2ndアルバム『GIRLS' GENERATION II ~Girls&Peace~』発売記念・世界最速全曲視聴会」”. dommune.com. 19 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  19. ^ pinebuffalo (5 tháng 9 năm 2012). “SNSD to hold 14 concerts in 6 different cities for 2013 Japan Tour”. en.korea.com. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. 
  20. ^ “少女時代「Oh!」日本版ビジュアル公開&アリーナツアー” (bằng tiếng Nhật). natalie.mu. 15 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2012. 
  21. ^ a ă â ORICON STYLE編集長のTwitter 2012年11月28日の発言 trên Twitter. November 27, 2012. Ngày truy xuất January 3, 2013.
  22. ^ a ă “Top Albums 2012/12/10付け” (bằng tiếng Nhật). billboard-japan.com. 10 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  23. ^ a ă “一般社団法人 日本レコード協会|各種統計” (bằng tiếng Nhật). RIAJ. 9 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2012. 
  24. ^ “少女時代 1年2ヶ月振りのシングル発売決定!”. 30 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  25. ^ “소녀시대, 日 발매된 'PAPARAZZ' 16일 국내 발매” (bằng tiếng Triều Tiên). news.naver.com. 16 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ “少女時代 ニューシングル&映像作品集 9/26同時発売決定!”. universal-music.co.jp. 10 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2012. 
  27. ^ “9月26日(水)発売の表題曲が「Oh!」に決定!” (bằng tiếng Nhật). sonejapan.net. 10 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. 
  28. ^ “【オリコン】少女時代、女性初の同時3冠 日本デビュー2年でシングル初首位”. oricon.co.jp. 2 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  29. ^ “FLOWER POWER [Maxi]”. amazon.co.jp. 2 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. 
  30. ^ “Audio preview for Girls’ Generation’s "Flower Power" aired on Japanese TV”. allkpop.com. 27 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  31. ^ Apple Inc. (14 tháng 11 năm 2012). “FLOWER POWER – 少女時代”. iTunes Japan. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  32. ^ “Billboard Japan Hot 100” (bằng tiếng Nhật). billboard-japan.com. “year=2012, month=12, day=3” 
  33. ^ a ă Apple Inc. (18 tháng 11 năm 2012). “Girls' Generation 2 (Girls & Peace)”. iTunes. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2012. 
  34. ^ “Girls' Generation II – Girls & Peace – (w/ DVD, Limited Edition / Type B)”. CD Japan. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2012. 
  35. ^ “2012年11月26日~2012年12月02日のCDアルバム週間ランキング(2012年12月10日付)” (bằng tiếng Nhật). oricon.co.jp. 5 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. 
  36. ^ “2012年11月のCDアルバム月間ランキング(2012年11月度)” (bằng tiếng Nhật). oricon.co.jp. 9 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2012. 
  37. ^ “年間ランキング特集 -ORICON STYLE ミュージック” (bằng tiếng Nhật). oricon.co.jp. 20 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. 
  38. ^ “Oricon Yearly Album 2012 Chart”. Oricon. 
  39. ^ “Oricon Monthly Chart (January 2013)”. Oricon. 
  40. ^ “少女時代 / GIRLS' GENERATION II ~Girls & Peace ~【通常盤】【CD】【2012年11月28日発売】” (bằng tiếng Nhật). store.universal-music.co.jp. 1 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2012. 
  41. ^ “第二張日文專輯 Girls & Peace 初回限量盤CD+DVD”. umusic.com.tw. 7 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2012.