Gliese 581

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Gliese 581
Gliese 581.jpg
Ngôi sao Gliese 581.
Ảnh của Digital Sky Survey.
Dữ liệu quan sát
Kỷ nguyên J2000.0      Xuân phân J2000.0 (ICRS)
Chòm sao Thiên Xứng
Xích kinh 15h 19m 26,8250s[1]
Xích vĩ −07° 43′ 20,209″[1]
Cấp sao biểu kiến (V) 10,56 đến 10,58a
Các đặc trưng
Kiểu quang phổ M3V[2]
Chỉ mục màu B-V 1,61[1]
Kiểu biến quang BYb
Trắc lượng học thiên thể
Vận tốc xuyên tâm (Rv) −9,5 ± 0,5[1] km/s
Chuyển động riêng (μ) RA: −1233,51[3] mas/năm
Dec.: −94,52[3] mas/năm
Thị sai (π) 160,91 ± 2,62[3] mas
Khoảng cách 20,3 ± 0,3 ly
(6,2 ± 0,1 pc)
Cấp sao tuyệt đối (MV) 11,6[4]
Chi tiết
Khối lượng 0,31[5] M
Bán kính 0,29[2] R
Hấp dẫn bề mặt (log g) 4,92 ± 0,10[6]
Độ sáng (bolometric) 0,013[2] L
Nhiệt độ 3.480 ± 48[6] K
Độ kim loại [M/H] = −0,33 ± 0,12[6]
Tuổi 7 đến 11 × 109[5][7] năm
Tên gọi khác
HO Librae, HO Lib, BD−07°4003, GJ 581, HIP 74995, LFT 1195, LHS 394, LPM 564, LTT 6112, NLTT 39886, TYC 5594-1093-1, Wolf 562.[1][8]
CSDL tham chiếu
SIMBAD dữ liệu

Gliese 581 (phát âm /ˈɡliːzə/) là một sao lùn đỏ với loại phổ M3V, nằm cách Trái Đất 20,3 năm ánh sáng trong chòm sao Thiên Xứng. Các nhà thiên văn ước lượng khối lượng của nó vào khoảng một phần ba khối lượng của Mặt Trời, và nó đứng thứ 87 trong danh sách các hệ sao gần Mặt Trời nhất.[9] Những quan sát và đo đạc cho thấy ngôi sao này có ít nhất sáu hành tinh quay quanh nó (theo thứ tự từ ngôi sao) là: Gliese 581 e, b, c, g, df. Đặc biệt, hành tinh g được cho là nằm gần giữa vùng ở được của ngôi sao.[10][11]

Hệ sao này thu hút được sự chú ý của các nhà thiên văn sau khi Gliese 581 c, hành tinh ngoại hệ khối lượng thấp được tìm thấy nằm gần vùng ở được của ngôi sao, được phát hiện ra vào tháng 4 năm 2007. Người ta đã chỉ ra rằng dưới những mô hình khí hậu trên các hành tinh đá đã được biết, Gliese 581 c có khí hậu rất giống với Sao Kim, và có lẽ không thể là một hành tinh ở được. Hành tinh tiếp theo được phát hiện là Gliese 581 d, có một số đặc điểm giống với Sao Hỏa, thì lại nằm ngay bên rìa (trong hoặc ngoài) của vùng ở được (đặc biệt còn phụ thuộc vào tính chất hiệu ứng nhà kính trên hành tinh này).[11] Sự phát hiện ra hành tinh ngoại hệ tiếp theo là Gliese 581 e,[12] lúc đó nó là hành tinh có khối lượng gần nhất với khối lượng của Trái Đất, được các nhà thiên văn thông báo vào tháng 4 năm 2009. Vào tháng 9 năm 2010, sự chú ý lại tập trung vào hệ sao này khi người ta thông báo đã phát hiện thấy hành tinh Gliese 581 g, với những đặc tính được cho là một hành tinh giống với Trái Đất nhất hiện nay, khi có khả năng cho tồn tại sự sống trên hành tinh này.[13]

Ngôi sao[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Gliese 581 được lấy từ số catalô (581) trong cuộc khảo sát năm 1957 Catalô những ngôi sao gần của Gliese (Gliese Catalogue of Nearby Stars) của nhà thiên văn học người Đức Wilhelm Gliese về 965 ngôi sao nằm trong bán kính 20 parsec tính từ Trái Đất. Các tên gọi khác cho ngôi sao này là BD-07° 4003 (Catalô BD, được xuất bản sớm nhất) và HO Librae (định danh sao biến quang). Nó không có một tên gọi riêng lẻ như Sirius hay Procyon.[1][8] Ngôi sao là một sao lùn đỏ với loại phổ M3V, cách Trái Đất 20,3 năm ánh sáng. Nó nằm cách sao Beta Librae khoảng 2 độ bắc, ngôi sao sáng nhất trong chòm sao Thiên Xứng. Người ta ước lượng khối lượng của nó xấp xỉ gần bằng một phần ba khối lượng của Mặt Trời, và là ngôi sao xếp thứ 87 gần Mặt Trời.[9]

So sánh kích thước của Mặt Trời (trái) và Gliese 581 (phải).

Với một sao lùn loại M như Gliese 581 có khối lượng thấp hơn nhiều so với Mặt Trời, khiến cho vùng lõi của ngôi sao thực hiện phản ứng tổng hợp hidrô với tốc độ rất thấp. Từ khoảng cách và cấp sao biểu kiến, chúng ta có thể ước lượng được nhiệt độ hiệu quả của nó vào khoảng 3.200 K và có độ sáng bằng 0,2% của Mặt Trời.[14] Tuy vậy, sao lùn đỏ Gliese 581 phát ra chủ yếu là các bức xạ hồng ngoại gần, phát ra cực đại tại bước sóng gần 830 nano mét (sử dụng định luật dịch chuyển Wien, với giả sử ngôi sao là một vật đen lý tưởng), nên đây có thể là một đánh giá tương đối thấp về độ sáng toàn phần của ngôi sao.[15] (Để so sánh, Mặt Trời phát ra cực đại gần bước sóng 530 nano mét, ở giữa của phần khả kiến trong quang phổ). Khi tính đến toàn bộ phổ bức xạ (không chỉ là phần con người có thể nhìn thấy), đôi khi được gọi là hiệu chỉnh nhiệt bức xạ (bolometric correction), thì ngôi sao có độ sáng nhiệt bức xạ bằng 1,3% độ sáng toàn phần của Mặt Trời.[2][14] Từ đó một hành tinh sẽ phải nằm gần ngôi sao hơn để có thể nhận được lượng năng lượng như Trái Đất nhận được từ Mặt Trời. Vùng không gian xung quanh ngôi sao nơi hành tinh có thể nhận được một lượng năng lượng như thế thỉnh thoảng được gọi là "Vùng Goldilocks", hay thông dụng hơn là vùng ở được. Sự xác định vùng này không cố định và tùy thuộc vào tính chất của từng hệ hành tinh cũng như ngôi sao chính.[16] Gliese 581 dường như có khối lượng khá lớn để trở thành sao lóe sáng (flare star) nên khó có thể thích hợp cho sự sống.[17] Sao Gliese 581 phát ra tia X.[18]

Hệ hành tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Có ít nhất sáu hành tinh được tìm thấy quay quanh sao Gliese 581. Gliese 581 b, có kích thước gần bằng Sao Hải Vương, được tìm thấy lần đầu tiên vào tháng 8 năm 2005 và là hành tinh thứ năm được phát hiện quay quanh một sao lùn đỏ. Hành tinh bên trong này có khối lượng ít nhất bằng 16 lần khối lượng của Trái Đất (gần giống với khối lượng của Sao Hải Vương) và hoàn thành một vòng quỹ đạo quanh Gliese 581 chỉ mất có 5,4 ngày.[2]

Hình vẽ vùng ở được đối với sao Gliese 581 so với vùng ở được của Hệ Mặt Trời.

Hành tinh Gliese 581 c, được phát hiện vào tháng 4 năm 2007.[14] Trong bài báo đăng năm 2007, Udry cùng các cộng sự giả sử rằng nếu Gliese 581 c có một hành tinh đồng hành kiểu Trái Đất, nó sẽ có bán kính bằng 1,5R, và sẽ là "hành tinh giống Trái Đất nhất" được biết đến.[14]

Không thể thực hiện đo đạc trực tiếp về bán kính của hành tinh khi quan sát từ Trái Đất, do hành tinh không đi ngang qua ngôi sao mẹ của nó. Với khối lượng tối thiểu xấp xỉ 5 lần khối lượng Trái Đất - hay bằng một phần ba của Sao Hải Vương - quỹ đạo của Gliese 581 c nằm ngay bên trong vùng ở được của sao chính.[19] Nhiệt độ bề mặt vật đen trung bình đã ước lượng nằm trong khoảng -3 °C (đối với suất phản chiếu quang học giống với Sao Kim) và 40 °C (đối với suất phản chiếu quang học giống với Trái Đất),[14] tuy thế, nhiệt độ trung bình có thể cao hơn (khoảng 500 độ Celsius) do hiệu ứng hậu khí nhà kính giống như của Sao Kim.[20] Một số nhà thiên văn tin rằng hệ này có thể đang trải qua quá trình di trú hành tinh (planetary migration) và Gliese 581 c có thể được hình thành bên ngoài đường băng (frost line), khiến nó có các thành phần tương tự như các thiên thể băng (như vệ tinh băng Ganymede của Sao Mộc). Gliese 581 c có chu kỳ quỹ đạo dưới 13 ngày Trái Đất.[14]

Các quan sát ngôi sao cũng hé lộ ra hành tinh thứ ba, gọi là Gliese 581 d, với khối lượng gần 7 lần khối lượng của Trái Đất, hay bằng một nửa của Sao Thiên Vương, có chu kỳ quỹ đạo bằng 66,8 ngày Trái Đất.[14][21][22] Quỹ đạo của nó nằm ngày bên ngoài giới hạn vùng ở được của ngôi sao, và nó được xếp vào hành tinh có khả năng cho sự sống tồn tại.[12][20] (Các nhà thiên văn tái phân tích dữ liệu vận tốc xuyên tâm và thu được giá trị khối lượng của hành tinh trong khoảng từ 5,6 đến 7,1 lần khối lượng Trái Đất M.)[23]

Hệ 4 hành tinh (2009)[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ 4 hành tinh cho đến năm 2009 với các hành tinh cd có quỹ đạo elip

Ngày 21 tháng 4 năm 2009, các nhà thiên văn thông báo đã phát hiện ra hành tinh thứ 4 là Gliese 581 e. Hành tinh này có khối lượng ước lượng tối thiểu là 1,9 M, và hiện tại là hành tinh ngoại hệ có khối lượng nhỏ nhất được phát hiện quay xung quanh một "ngôi sao thông thường" (tức là ngoại trừ các pulsar). Chu kỳ quỹ đạo của nó là 3,15 ngày Trái Đất.[12][22]

Các mô phỏng động lực học của hệ sao Gliese 581 giả sử rằng quỹ đạo của hai hành tinh b và d là đồng phẳng sẽ cho hệ hành tinh bất ổn định nếu khối lượng của các hành tinh đo được lớn gấp 1,6 đến 2 lần khối lượng tối thiểu của chúng. Giới hạn trên về khối lượng của các hành tinh thu được từ các mô phỏng là 3,1; 30,4; 10,4; và 13,8 lần khối lượng của Trái Đất tương ứng cho các hành tinh e, b, c, và d.[12]

Hệ sao Gliese 581[12]
Hành tinh
(theo thứ tự từ ngôi sao)
Khối lượng Bán trục lớn
(AU)
Chu kỳ quỹ đạo
(ngày)
Độ lệch tâm
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn (a) 0,03 AU
Lệch tâm (e) 0
Chu kỳ quỹ đạo (P) 3,14942 ± 0,00045 d
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn (a) 0,04 AU
Lệch tâm (e) 0
Chu kỳ quỹ đạo (P) 5,36874 ± 0,00019 d
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn (a) 0,07 AU
Lệch tâm (e) 0,17 ± 0,07
Chu kỳ quỹ đạo (P) 12,9292 ± 0,0047 d
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn (a) 0,22 AU
Lệch tâm (e) 0,38 ± 0,09
Chu kỳ quỹ đạo (P) 66,80 ± 0,14 d

Hệ 6 hành tinh (2010)[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ hành tinh năm 2010 với các quỹ đạo tròn (không vẽ hành tinh f ở đây)
Hình ảnh của Quỹ Khoa học Quốc gia (NSF) so sánh hệ Mặt Trời (dưới) của chúng ta với hệ Gliese 581 (trên), hành tinh f nằm ngay bên ngoài quỹ đạo của Sao Kim

Ngày 29 tháng 9 2010, các nhà thiên văn ở Đài quan sát Keck thông báo họ đã phát hiện ra hai hành tinh Gliese 581 fGliese 581 g, cả hai có quỹ đạo gần như hình tròn. Sự phát hiện ra dựa trên sự phân tích tổng hợp các dữ liệu từ các thiết bị HIRESHARPS. Theo Nicknamed Zarmina, một trong những nhà thiên văn khám phá ra hai hành tinh này,[24] Gliese 581 g có khối lượng từ 3 đến 4 lần khối lượng của Trái Đất, với chu kỳ 37 ngày Trái Đất, và khoảng cách của nó đến ngôi sao Gliese 581 cho thấy nó nằm trong vùng ở được của sao này. Người ta tiên đoán là hành tinh này bị khóa thủy triều, tức là một phía của hành tinh luôn hướng về phía ngôi sao.[11][25]

Tỉ số xấp xỉ giữa chu kỳ của hai hành tinh kề cận nhau là (tính từ trong ra ngoài): 3:5, 2:5, 1:3, 1:2, 2:13.

Các tham số được liệt kê bên dưới thu được từ giả sử quỹ đạo các hành tinh có độ lệch tâm bằng 0. Việc thay đổi độ lệch tâm không làm tăng độ chính xác lên nhiều.[26]

Theo như thuyết trình của F. Pepe tại Hội thảo chuyên đề thứ 276 của IAU, hành tinh g chưa hoàn toàn được xác định từ những phân tích mới từ các dữ liệu thu được từ bản đồ phổ của thiết bị HARPS,[27] và cả hai hành tinh f và g được cho vào danh sách các hành tinh chưa được xác nhận tại Extrasolar Planets Encyclopaedia.[28]

Hệ sao Gliese 581[11]
Hành tinh
(theo thứ tự từ ngôi sao)
Khối lượng Bán trục lớn
(AU)
Chu kỳ quỹ đạo
(ngày)
Độ lệch tâm
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn (a) 0,0284533 ± 0,0000023 AU
Lệch tâm (e) 0
Chu kỳ quỹ đạo (P) 3,14867 ± 0,00039 d
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn (a) 0,0406163 ± 0,0000013 AU
Lệch tâm (e) 0
Chu kỳ quỹ đạo (P) 5,36841 ± 0,00026 d
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn (a) 0,072993 ± 0,000022 AU
Lệch tâm (e) 0
Chu kỳ quỹ đạo (P) 12,9191 ± 0,0058 d
g (chưa xác nhận) ≥3,1 M 0,14601 ± 0,00014 36,562 ± 0,052 0
Tham số quỹ đạo
Bán trục lớn (a) 0,21847 ± 0,00028 AU
Lệch tâm (e) 0
Chu kỳ quỹ đạo (P) 66,87 ± 0,13 d
f (chưa xác nhận) ≥7,0 M 0,758 ± 0,015 433 ± 13 0

Tín hiệu radio gửi đi từ Trái Đất[sửa | sửa mã nguồn]

Kính thiên văn RT-70 ở Yevpatoria trước ngày gửi thông điệp

Một thông điệp gửi từ Trái Đất (A Message From Earth-AMFE), là một tín hiệu radio kĩ thuật số năng lượng cao được gửi đi vào ngày 9 tháng 10 năm 2008 đến thẳng hành tinh Gliese 581 c, một hành tinh đá ngoại hệ quay quanh sao lùn đỏ Gliese 581. Tín hiệu này là một túi thời gian (time capsule) kĩ thuật số chứa 501 thông điệp được lựa chọn qua một cuộc thi trên một mạng xã hội, trang Bebo.[29] Thông điệp này được gửi đi từ kính thiên văn vô tuyến RT-70 của Trung tâm Không gian Quốc gia Ukraina. Tín hiệu này sẽ đến được hành tinh kiểu Trái Đất Gliese 581 c vào đầu năm 2029. Tính đến ngày 14/9/2011, tín hiệu này đã đi được 27,732 trong tổng số 192 triệu triệu kilômét của quãng đường cần đi tới đích.


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chú thích a:Sao Gl 581 được phân loại thành sao biến quang BY Draconis trong Đại Danh lục Sao Biến quang.[30] Danh lục này ghi giá trị cấp sao lớn nhất là 10,56 và cấp sao nhỏ nhất là 10,58 cho sự biến đổi độ lớn tương đối thấp bằng 20 mmag (0,020 magnitudes).[31] Xem dữ liệu đầy đủ tại trang miêu tả và bài “The combined table of GCVS Vols I-III and NL 67-78 with improved coordinates, General Catalogue of Variable Stars”. Viện thiên văn học Sternberg. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. 
  • Chú thích b: Năm 1994 Edward Weis kết luận rằng sao Gl 581, giống như một nửa trong số 43 sao lùn kiểu M mà ông đã nghiên cứu trong thời gian nhiều năm, có sự biến quang trong một chu kỳ dài (và ở trang 1137 trong tạp chí American Astronomical Society, hình 1 cho thấy Gl 581 có cấp sao 10,58 trong năm 1982 và giữa 10,57 và 10,56 từ năm 1985 đến 1990).[32] Bonfils ghi chú vào năm 2005 rằng "Gl 581 đã được phân loại thành sao biến quang (HO Lib), nhưng sự biến đổi của nó (theo Weis 1994) là nhỏ một cách đáng kể. Nếu thực sự nó biến đổi trên chu kỳ vài năm, thì sự biến quang của chu kỳ ngắn nhiều nhất là ∼0,006 mag."[33] Các đo đạc thực hiện bởi MOST chỉ ra sự biến quang chu kỳ ngắn là khoảng 5 mmag (một nửa của 1%) trong chu kỳ vài tuần.[34]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d GJ 581 , SIMBAD. Retrieved 2008-08-21.
  2. ^ a ă â b c Bonfils, X.; et al. (2005). “The HARPS search for southern extra-solar planets VI: A Neptune-mass planet around the nearby M dwarf Gl 581”. Astronomy and Astrophysics Letters 443: L15–L18. doi:10.1051/0004-6361:200500193. 
  3. ^ a ă â van Leeuwen, F. (2007). “HIP 74995”. Hipparcos, the New Reduction. Centre de données astronomiques de Strasbourg. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2008. 
  4. ^ Đo từ cấp sao biểu kiến và thị sai.
  5. ^ a ă “Star: Gl 581”. Extrasolar Planets Encyclopaedia. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. ‘Mass 0,31 Msun, Age 8+3−1 Gyr’ 
  6. ^ a ă â Bean, J. L; Benedict; Endl, M. (2006). “Metallicities of M Dwarf Planet Hosts from Spectral Synthesis”. Astrophysical Journal Letters 653 (1): L65–L68. Bibcode:2006ApJ...653L..65B. doi:10.1086/510527.  Đã bỏ qua tham số không rõ |fist2= (trợ giúp)
  7. ^ Selsis 3.4 page 1382 "lower limit of the age that, considering the associated uncertainties, could be around 7 Gyr", "preliminary estimate", "should not be above 10-11 Gyr"
  8. ^ a ă “Entry 5594-1093-1”. The Hipparcos and Tycho Catalogues. Centre de données astronomiques de Strasbourg. ID I/239. 
  9. ^ a ă “The One Hundred Nearest Star Systems”. Research Consortium on Nearby Stars, Georgia State University. 1 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2010. 
  10. ^ Newly discovered planet may be first truly habitable exoplanet
  11. ^ a ă â b Vogt, Steven S.; Butler, R. Paul; Rivera, Eugenio J.; Haghighipour, Nader; Henry, Gregory W.; Williamson, Michael H. (2010). "The Lick-Carnegie Exoplanet Survey: A 3.1 M_Earth Planet in the Habitable Zone of the Nearby M3V Star Gliese 581". arΧiv:1009.5733.  }}
  12. ^ a ă â b c Mayor, M.; et al. (2009). “The HARPS search for southern extra-solar planets XVIII: An Earth-mass planet in the GJ 581 planetary system”. Astronomy and Astrophysics 507: 487. Bibcode:2009A&A...507..487M. doi:10.1051/0004-6361/200912172. 
  13. ^ AFP (29 tháng 9 năm 2010). “US scientists find potentially habitable planet near Earth”. Google. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010. 
  14. ^ a ă â b c d đ Udry, S; et al. (2007). “The HARPS search for southern extra-solar planets XI: Super-Earths (5 and 8 M) in a 3-planet system”. Astronomy and Astrophysics Letters 469 (3): L43–L47. doi:10.1051/0004-6361:20077612. 
  15. ^ Bonfils, X.; et al. (2005). “The HARPS search for southern extra-solar planets VI: A Neptune-mass planet around the nearby M dwarf Gl 581”. Astronomy and Astrophysics Letters 443 (3): L15–L18 doi=10.1051/0004–6361:200500193. 
  16. ^ Selsis, F.; et al. (2007). “Habitable planets around the star Gl 581?”. Astronomy and Astrophysics 476 (3): 1373–1387. Bibcode:2007A&A...476.1373. doi:10.1051/0004-6361:20078091. 
  17. ^ Minard, A. (21 tháng 4 năm 2009). “Nearly Earth-sized Planet, Possible Watery World Spotted Near Another Star”. Universe Today. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2010. 
  18. ^ Schmitt, J. H. M. M; Fleming, T. A; Giampapa, M. S. (1995). “The X-Ray View of the Low-Mass Stars in the Solar Neighborhood”. Astrophysical Journal 450 (9): 392–400. Bibcode:1995ApJ...450..392S. doi:10.1086/176149. 
  19. ^ von Bloh, W.; et al. (2008). “Habitability of Super-Earths: Gliese 581c & 581d”. Proceedings of the International Astronomical Union 3 (S249): 503–506. doi:10.1017/S1743921308017031. arΧiv:0712.3219. 
  20. ^ a ă von Bloh, W.; et al. (2007). The Habitability of Super-Earths in Gliese 581 476. Astronomy & Astrophysics. tr. 1365–1371. Bibcode:2007A&A...476.1365VPDF. 
  21. ^ “New 'super-Earth' found in space”. BBC News. 25 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2008. 
  22. ^ a ă Rincon, P.; Amos, J. (21 tháng 4 năm 2009). “Lightest exoplanet is discovered”. BBC News. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2009. 
  23. ^ tr 29, Vogt 2010.
  24. ^ “The astrophysicist who discovered Zarmina describes life on "second Earth"”. 1 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2010. 
  25. ^ “Keck Observatory discovers the first Goldilocks exoplanet” (Thông cáo báo chí). Keck Observatory. 29 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2010. 
  26. ^ pp. 15, 24, Vogt 2010.
  27. ^ “Existence of habitable exoplanet questioned”. Science News. 13 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |auctor= (trợ giúp)
  28. ^ “Notes for star Gl 581”. The Extrasolar Planets Encyclopaedia. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  29. ^ Sarah Gavin (29/7/2008). “One Giant Leap For The Bebo Community”. Bebo. Truy cập 15/11/2008. 
  30. ^ Lopez-Morales, M.; et al. (2006). “Limits to Transits of the Neptune-mass planet orbiting Gl 581”. Publications of the Astronomical Society of the Pacific 118: 1506–1509. doi:10.1086/508904. arΧiv:astro-ph/0609255. “V* HO Lib... BY Draconis”  (page 2 of pre-print submitted 9 September 2006)
  31. ^ “General Catalogue of Variable Stars Query results”. Sternberg Astronomical Institute. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. 
  32. ^ Weis, E. W. (1994). “Long term variability in dwarf M stars”. American Astronomical Society 107 (3): 1138. Bibcode:1994AJ....107.1135W. doi:10.1086/116925. 
  33. ^ Bonfils page L15
  34. ^ Matthews, J. M.; et al. (2007). “MOST Exoplanet System Photometry”. tr. 80. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: Bản đồ bầu trời 15h 19m 26s, −07° 43′ 20″