Hà Văn Lâu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hà Văn Lâu
Tiểu sử
Biệt danh Sáu Lâu
Quốc tịch Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh

9 tháng 12, 1918

Huế
Binh nghiệp
Thuộc Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ 1945-1970
Cấp bậc DaitaQDND.gifĐại tá
Đơn vị Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chỉ huy Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến Mặt trận Nha Trang
Mặt trận Ninh Hòa
Toàn quốc kháng chiến tại Huế
Chiến dịch Lê Lai
Chiến dịch Hòa Bình
Chiến dịch Thu-Đông 1952
Chiến cục Đông-Xuân 1953-1954
Khen thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất
Huân chương Quân công hạng nhất
Huân chương Chiến công hạng nhất
Huân chương Chiến thắng hạng nhất
Công việc khác Chủ tịch Huế
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao
Đại sứ Việt Nam tại Cuba
Đại sứ Việt Nam tại Pháp
Đại sứ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc

Đại tá Hà Văn Lâu (born 1918) là một chỉ huy quân sự và là một nhà ngoại giao Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Văn Lâu sinh ngày 9 tháng 12 năm 1918 ở làng Sình, ngã ba sông Hương, cách Huế không xa. Cha ông là thầy giáo tiểu học trường làng Hà Văn Phu, còn gọi là thầy Cửu Phu.

Khi lên 7 thì cha ông qua đời, được bà ngoại và mẹ nuôi nấng ăn học. Ông tốt nghiệp bậc Thành chung, nhưng do không có điều kiện nên phải thi công chức vào ngạch thư ký Tòa sứ.

Với ý định du học Pháp, ông xin vào học một trường quân sự của Pháp ở Đông Dương, sau đó tốt nghiệp hạ sĩ quan trù bị (1942). Tuy nhiên, chính quyền Pháp sau đó giải tán các trường đào tạo huấn luyện và đình chỉ tăng quân, ông buộc lại phải trở về nghề cũ.

Thời gian này, ông gặp bà Nguyễn Tăng Diệu Hương, con nhà dòng dõi quý tộc trong triều đình Huế, rồi nên duyên vợ chồng.

Vì hoàn canh gia đình, ông thi vào ngành thương chánh. Năm 1943, ông được bổ nhiệm trông coi một đồng muốiphủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Năm 1944, ông gia nhập mặt trận Việt Minh.

Hoạt động quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1945, ông là giảng viên và huấn luyện quân sự tại trường Thanh niên Tiền tuyến, trường quân sự đầu tiên do chính phủ Trần Trọng Kim lập [1].

Cách Mạng tháng Tám thành công, do có kinh nghiệm huấn luyện tự vệ thời tiền Khởi nghĩa, ông được cử làm Ủy viên quân sự Nha Trang, Hiệu trưởng Trường huấn luyên quân sự Đồng Đế.

Sau khi quân Pháp quay lại xâm lược, ông làm Chỉ huy phó kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Nha Trang.

Sau Hiệp định Sơ bộ (6/3/1945), ông được cử làm Trưởng phái đoàn sĩ quan liên lạc của Việt Nam ở Khánh Hòa-Nha Trang.

Sau 7 tuần, quân Pháp phá bỏ đình chiến, đánh bật quân Việt Nam rút về Phú Yên. Quân chủ lực Việt Nam của ba tỉnh Khánh Hòa, Phan Thiết, Ninh Thuận tổ chức thành một đại đoàn-Đại đoàn 27. Cao Văn Khánh làm Đại đoàn trưởng và Hà Văn Lâu làm Đại đoàn phó.

Đầu tháng 12/1946, thì Mặt trận Ninh Hòa bị vỡ. Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ kiêm Chủ tịch Việt Minh Trung Bộ Nguyễn Chí Thanh triệu Hà Văn Lâu về Huế.

Tại đây, ông làm Trung đoàn trưởng trung đoàn Trần Cao Vân, Chỉ huy trưởng Mặt trận Huế sau đó kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Thừa Thiên Huế.

Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông chỉ huy Mặt trận Huế. Sau đó rút quân về xây dựng chiến khu Mỹ Hòa.

Năm 1949, trên chiến trường chính Bắc Bộ, quân chủ lực mở chiến dịch tấn công vào quân đội viễn chinh Pháp ở các tỉnh Hòa Bình, Phúc Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang. Mặt trận Bình-Trị-Thiên mở Chiến dịch phối hợp do Hà Văn Lâu làm Chỉ huy trưởng.

Năm 1951, Hà Văn Lâu được bổ nhiệm về công tác ở Cục tác chiến giữ chức Cục phó (Cục trưởng Đỗ Đức Kiên). Với cương vị này, ông tham gia chỉ huy chiến dịch đông-xuân 1951-1952, chiến dịch thu-đông 1952chiến cục đông xuân 1953-1954 với đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Cấp bậc của ông trong thời gian này là đại tá.

Công tác ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1954 ông tham dự Hội nghị Giơ ne vơ với vai trò chuyên viên quân sự của phái đoàn Việt nam Dân chủ cộng hòa,

Năm 1962 ông tham dự Hôi nghị quốc tế về Lào, 1968 - dự hội nghị quốc tế về Campuchia, các hội nghị về phong trào không liên kết...

Sau đó ông làm Đại sứ Việt nam tại Cu Ba năm 1975 kiêm nhiệm chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Hamaica và Cộng hòa hợp tác Guyana.[1], tại Liên Hợp Quốc năm 1978 - 1982.

Năm 1982 ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Trưởng ban Việt kiều Trung ương, năm 1984 giữ chức Đại sứ Việt nam tại Pháp. .

Trở về đời thường[sửa | sửa mã nguồn]

Đôi dép Bình-Trị-Thiên[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]