Làn sóng Hàn Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hàn lưu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
K-pop

Hàn lưu hay Hallyu (Tiếng Triều Tiên한류韓流; có nghĩa là Làn sóng Hàn Quốc) là tên gọi được bắt nguồn từ cách gọi của một số nhà báo ở Bắc Kinh về sự nổi tiếng nhanh chóng của Hàn Quốc và các sản phẩm của Hàn Quốc tại Trung Quốc[1], hiện được dùng để ám chỉ sự nổi tiếng của văn hóa Hàn Quốc trên thế giới trong thế kỷ 21. Làn sóng Hàn Quốc nổi tiếng khắp châu Á, đặc biệt là tại Đông Á bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, các nước Đông Nam Á và đang bắt đầu lan rộng tới Ấn Độ[2], Trung Đông[3], Trung Á[4], Thổ Nhĩ Kỳ[5].

Hiện nay làn sóng Hàn Quốc thông qua K-popphim truyền hình đang lan truyền khắp thế giới. Sự lan rộng và yêu thích của Hàn lưu trên khắp toàn cầu là niềm tự hào của người Hàn Quốc. Tuy nhiên Hàn lưu cảnh báo chứa đựng nội hàm về chủ nghĩa dân tộc văn hóa. Đây là quyền lực mềm của Hàn Quốc [6].

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Hàn Quốc là một trong top 10 nước xuất khẩu văn hóa hàng đầu thế giới[7], làn sóng Hàn bắt đầu với việc xuất khẩu các sản phẩm phim truyền hình như Trái tim mùa thu, Bản tình ca mùa đôngNàng Dae Jang Geum khắp Đông và Đông Nam Á. Sự thành công nhanh chóng của phim truyền hình Hàn Quốc kéo theo sự nổi tiếng của phim nhựa, âm nhạc đại chúng Hàn Quốc (gọi tắt K-pop), Ẩm thực Triều TiênTiếng Triều Tiên[8]. Từ "Hàn lưu" giờ cũng ám chỉ nền kinh tế đang lên của Hàn Quốc và sự nổi lên của các tập đoàn đa quốc gia đến từ đất nước này như Samsung, LGHyundai.

Bộ Văn hóa Hàn Quốc đã có kế hoạch đẩy mạnh làn sóng Hàn Quốc thứ nhất theo đó Hàn Quốc tập trung nhấn mạnh việc phát triển văn hóa truyền thống, theo kế hoạch thứ hai thì nhắm đến 3 mục tiêu K-Arts (nghệ thuật Hàn Quốc), ba lê và học viện âm nhạc. Để thực hiện họ đã tài trợ một quỹ trị giá khoảng 12 tỷ won[9] được lập ra để hỗ trợ phát triển âm nhạc dân tộc truyền thống. Chính phủ Hàn Quốc từng dự kiến sẽ chi 54,4 tỷ won cho các dự án và Bộ Văn hóa sẽ hỗ trợ những sản phẩm của chương trình văn hóa mới, đào tạo các chuyên gia có thể dẫn dắt các ngành công nghiệp văn hóa và nghệ thuật, tức kết nối nghệ thuật và văn hóa với ngành công nghiệp và kỹ thuật, đẩy mạnh trao đổi văn hóa ra nước ngoài để củng cố vững chắc làn sóng Hàn Quốc [10].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

2000 - 2009: Làn sóng Hallyu ở châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Bước sang thế kỉ 21, nhiều quốc gia ở Đông Á đã nhận thấy được sự phát triển của phim truyền hình và nhạc Pop Hàn Quốc. Năm 2000, cô ca sĩ K-Pop BoA bắt đầu sự nghiệp ca hát của mình dưới trướng công ti SM Entertainment và hai năm sau đó, album Listen to my heart của cô trở thành album đầu tiên của một ca sĩ Hàn Quốc bán được 1 triệu bản tại Nhật.[11]

Bên cạnh thành công ban đầu của làn sóng Hallyu, còn có một sự phát triển đáng chú ý không kém trong những sản phẩm văn hoá nhập khẩu đến từ Đài Loan, quốc gia mà cũng giống như Hàn Quốc khi là một trong Bốn con hổ châu Á. Sự lan toả làn sóng văn hoá đại chúng Đài Loan xảy ra sớm hơn một chút, trước khi làn sóng Hallyu được biết đến ở châu Á. Năm 2001, bộ phim truyền hình Đài Loan "Vườn sao băng" được phát sóng và đã nhanh chóng thu hút khán giả từ khắp nơi trong khu vực. Nó trở thành bộ phim được theo dõi nhiều nhất trong lịch sử truyền hình Philippines[12], tập trung hơn 10 triệu người xem mỗi ngày chỉ tính riêng ở Manila[13], đưa các nam chính của nhóm nhạc Đài Loan F4 trở nên nổi tiếng chỉ sau một đêm[14]. Sự phổ biến của F4 lan rộng khắp châu Á, bao gồm Trung Quốc, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt NamPhilippines. Sau thành công của họ, nhiều boyband khác của xứ Đài cũng nổi lên cùng thời gian đó như 5566, 183 ClubPhi Luân Hải. Năm 2002, một phóng viên của BBC miêu tả các thành viên của F4 từ những diễn viên vô danh trước đó đã "tạo nên làn sóng hâm mộ cuồng nhiệt khắp châu Á" như một hệ quả tất yếu sau thành công của "Vườn sao băng"[15]. Sự phổ biến của "Vườn sao băng" (được chuyển thể từ bộ truyện tranh Nhật Bản Boys Over Flowers) có thể là do hai yếu tố sau đây: - Sự đồng cảm của khán giả với điểm nhấn riêng trong việc thăng tiến cảm xúc cùng nhân vật chính. - Sự chú trọng rõ rệt tới ham muốn tình cảm của phụ nữ - Khởi nguồn từ những tình tiết kịch theo khuôn mẫu đánh trúng tâm lí phụ nữ, "Vườn sao băng" quảng bá sự hấp dẫn, quyến rũ của các nam diễn viên (do nhóm nhạc thần tượng F4 thủ vai), đem đến cho phụ nữ một sự tự do nhất định trong việc biểu đạt tình yêu[16][17].

Như một hệ quả tất yếu sau thành công của "Vườn sao băng", phần tiếp theo của nó "Vườn sao băng II" dần dần được phát sóng ở nhiều quốc gia châu Á, trước khi nguồn nguyên liệu này sau đó lần lượt được chuyển thể bởi các đài truyền hình ở Nhật Bản, Hàn QuốcTrung Quốc. Phiên bản của đài KBS Hàn Quốc được đổi tên thành "Boys Over Flowers" dựa trên một bộ truyện tranh cùng tên của Nhật Bản lâu đời trước đó.

Năm 2002, bộ phim truyền hình Hàn Quốc "Bản tình ca mùa đông" trở thành sản phẩm đầu tiên của thể loại phim thần tượng Hàn Quốc bắt kịp với thành công của "Vườn sao băng", thu hút các tín đồ hâm mộ ở châu Á với doanh thu của các sản phẩm liên quan đến Bản tình ca mùa đông như những bộ DVD và các tiểu thuyết vượt mốc 3,5 triệu USD tại Nhật Bản[18]. Năm 2004, Cựu Thủ tướng Nhật là ông Koizumi Junichiro phát biểu rằng vai nam chính trong bộ phim còn "nổi tiếng hơn cả tôi tại Nhật Bản"[19].

Những bộ phim truyền hình Hàn Quốc khác được phát sóng trong những năm tiếp theo, như "Ngôi nhà hạnh phúc" và "Nàng Dae Jang Geum" cũng đã cho thấy mức độ thành công ngang ngửa không thua không kém.[20]

Kể từ năm 2002, xu hướng chương trình truyền hình tại Đông Nam Á bắt đầu trải qua một sự thay đổi mạnh mẽ khi phim truyền hình Hàn Quốc và Đài Loan lấp đầy khoảng trống vốn dành cho các bộ phim Hollywood trong suốt thời gian đầu.[12] Mặc dù phim truyền hình Hàn dần dần lấn át những sản phẩm cùng thể loại đến từ Đài Loan nhưng phần lớn fan châu Á vẫn quan tâm chủ yếu đến các nhóm nhạc Đài như F4, S.H.EPhi Luân Hải. Sự đột phá của K-Pop chỉ bắt đầu với sự ra mắt của TVXQSuper Junior mà sau này hai boyband này được đài BBC ca ngợi như một cái tên dưới cùng một nhà trong khu vực.[21]

Trong khi đó, sự phổ biến của phim truyền hình Hàn Quốc tiếp tục lan rộng khắp lục địa châu Á, với nhiều nam diễn viên Hàn được miêu tả không những ngọt ngào, lãng mạn, nhạy cảm mà còn rất đẹp trai.[cần dẫn nguồn] Những phóng sự về phụ nữ châu Á di chuyển đến Hàn Quốc để "tìm một người chồng Hàn" bắt đầu xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, bao gồm một bài báo trên Washington Post về hàng nghìn phụ nữ Nhật Bản "cuồng nhiệt" định cư vì "không gì hơn một người bạn đời Seoul"[22], một bài viết trên tạp chí Thời đại đưa tin rằng giới trẻ từ Tokyo cho tới Đài Bắc đang chết mê chết mệt các ca sĩ Hàn[23], và một tiêu đề trên CNN về hàng ngàn phụ nữ Trung Quốc gào thét để có cơ hội được gặp boyband K-Pop Super Junior, dẫn đến một vụ hỗn loạn.[24]

Cho đến cuối những năm 2000, nhiều nhóm nhạc Đài Loan không còn bắt kịp được với các đồng nghiệp K-Pop nữa.[cần dẫn nguồn] Dẫu rằng một số nhóm nhạc Đài như F4Phi Luân Hải tiếp tục duy trì một lượng fan tuy nhỏ mà trung thành ở châu Á, nhưng giới trẻ từ khắp nơi trên thế giới đã nhanh chóng tiếp nhận các nhóm nhạc K-Pop như Big BangSuper Junior, mà cả hai nhóm này đã và đang thu hút một lượng fan khổng lồ đến từ Nam Mĩ, nhiều khu vực của Đông Âu, vùng Trung Đông, và cho tới một lượng fan nhỏ hơn ở phương Tây (đặc biệt là trong cộng đồng người nhập cư gốc Á, Trung Đông, gốc Phi hay Đông Âu).[cần dẫn nguồn]

Sự thăng trầm[sửa | sửa mã nguồn]

Có thể nói, hơn 10 năm trở lại đây, Hàn Quốc đã trở thành "Hollywood của phương Đông", sản sinh ra hàng loạt ngôi sao ca nhạc, điện ảnh, truyền hình… khuấy đảo thị trường giải trí châu Á, với lượng fan khổng lồ ở khắp Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á… Mặc dù khác biệt về ngôn ngữ, nhưng nhiều nét phong tục tập quán tương đồng trong xã hội phương Đông, làm giảm rào cản văn hóa giúp cho các bộ phim Hàn Quốc dễ dàng được chấp nhận, thưởng thức và yêu thích tại các quốc gia trong khu vực [25].

Tuy nhiên cũng có nhiều dấu hiệu cho thấy, làn sóng Hàn Quốc có suy thoái, những siêu sao Hàn Quốc không còn sức hấp dẫn tuyệt đối với người hâm mộ. Tại Trung Quốc, tỷ lệ phần trăm những người hài lòng với những bộ phim truyền hình Hàn Quốc đã giảm từ 72% năm 2004 xuống 63.3% năm 2006. Tại Đài Loan, mức độ giảm sút là từ 62% xuống 57.9%. Sự không thỏa mãn tăng từ 5% đến 5.4% tại Trung Quốc và từ 1% đến 3% tại Đài Loan. Tại Nhật Bản, tỷ lệ những người hài lòng với phim nhựa Hàn giảm từ 60 xuống 54.6%, tại Trung Quốc giảm từ 75% xuống 59.7%, tại Đài Loan giảm từ 49% xuống 42.1%[26].

Một khảo sát cho thấy cứ 6 trong 10 người nước ngoài tin rằng xu hướng yêu thích văn hóa Hàn như K-pop, phim điện ảnh, phim truyền hình và những vở nhạc kịch opera sẽ giảm trong vài năm tới. 20,5% số người được hỏi cho hay, họ đã "mệt mỏi vì nội dung được tiêu chuẩn hóa". Phim truyền hình chỉ quanh quẩn các chủ đề như ngoại tình, trả thù, bí mật về thân thế hay danh tính của nhân vật, khiến cho việc gây chú ý với khán giả ngày càng khó khăn hơn. Các khán giả đã bội thực với những màn trình diễn khoe vũ đạo, hình thể sexy trong khi giọng hát quá yếu, dòng nhạc thị trường dễ nghe dễ chán..[27]

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Quỹ giao lưu công nghiệp văn hóa Hàn Quốc công bố kết quả nghiên cứu dựa trên các chỉ số đánh giá mức độ hâm mộ của công chúng đối với Làn sóng Hàn Quốc tại các nước châu Á. Theo đó, Việt Nam xếp thứ 4 về mức độ yêu thích làn sóng Hàn Quốc[28]. Thời điểm HTV phát sóng bộ phim Anh em nhà bác sĩ (1998) có thể coi là mốc mở đầu cho Hallyu ở Việt Nam. sức hút ấy đến từ lòng trắc ẩn, sự lý tưởng hóa, sức trẻ, sự chung thủy, sự khác biệt và độc đáo. Hallyu đã thâm nhập vào năng lực thấu cảm văn hóa của giới trẻ để rồi ảnh hưởng đến sở thích và nhu cầu của họ trong cuộc sống bởi sự phức hợp của ba yếu tố: tiêu dùng - giải trí - truyền thông [6]. Ngoài ra, ở Đông Á, ngoài Trung Quốc, Việt Nam và Hàn Quốc chịu ảnh hưởng Nho giáo trầm trọng nhất. Cách suy nghĩ và nếp sinh hoạt của hai dân tộc khá gần nhau. Văn hóa trong phim Hàn Quốc rất gần gũi với văn hóa Việt Nam; đó là tôn ti trật tự, truyền thống vâng lệnh bề trên,...[29]

Tuy nhiên khi tiếp nhận trào lưu Hàn Quốc trong lĩnh vực giải trí (ca nhạc, phim ảnh...) có nhiều ý kiến khác nhau về đồng tình, ủng hộ cũng như không đồng tình, ủng hộ trào lưu này.

Ủng hộ[sửa | sửa mã nguồn]

Một số ý kiến đồng tình thường từ giới trẻ cho rằng trào lưu Hàn Quốc mà biểu hiện là K-pop chính là một sân chơi lành mạnh cho thanh thiếu niên độ tuổi trẻ, họ chỉ tìm những thông tin chính thống về thần tượng của mình, giảm bớt sự tò mò về những thứ không phù hợp lứa tuổi, chia sẻ với nhau những bài hát hay, những điệu nhảy đẹp, khuyến khích nhau luyện tập, khuyến khích nhau tự tin, tóm lại là hoàn toàn lành mạnh[30].

Cũng theo những đối tượng này thì vì họ còn trẻ nên dĩ nhiên thích những gì sôi động và bắt mắt, và đến khi thực sự trưởng thành, họ sẽ tự biết cư xử như thế nào cho phù hợp mà không cần phải có sự áp đặt của các bậc bố mẹ vì họ quá khác về cách suy nghĩ, lối sống[31].

Một số bậc cha mẹ vì quá thương và chiều con cái của mình nên cũng chiều theo sở thích của con cái, tiếp tay cho con cái ủng hộ trao lưu này như cố gắng đáp ứng yêu cầu của con cái mình, đi tìm hiểu thông tin khắp nơi để tìm được tấm vé xem ca nhạc cho con... nhưng họ cũng không khỏi thực sự lo lắng vì sự ngưỡng mộ điên cuồng đến lệch lạc về các thần tượng là các ngôi sao, ban nhạc Hàn Quốc[32].

Không đồng tình[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh xu hướng hâm mộ làn sóng Hàn Quốc thì vẫn có những ý kiến bày tỏ sự lo lắng thậm chí là đề xuất cấm đoán đối với hiện tường này vì sự lan tỏa và ảnh hưởng của làn sóng này ở Việt Nam đang khiến cho thị trường giải trí Việt trở nên yếu thế, và có nguy cơ người Việt trẻ bỏ qua thuần phong mỹ tục và quan điểm thế nào là thuần phong mỹ tục có lẽ nên thay đổi[33].

Một số phụ huynh khác kêu gọi cần ngăn chặn vì những tác động của làn sóng Hàn Quốc đối với giới trẻ Việt thì tiêu cực nhiều hơn tích cực như một bộ phận lớn học sinh từ lớp 6 đến lớp 12 chăm chỉ online cập nhật tin tức ban nhạc Hàn, lập hội anti fan... học thuộc tiểu sử ca sĩ, diễn viên Hàn còn hơn nhớ bài học ở trường, tiêu tốn hàng mấy trăm ngàn hoặc hơn cho những đĩa nhạc, ly tách, poster có hình thần tượng, hay thậm chí hàng triệu đồng để đi xem show ca nhạc. Thời gian, tâm sức họ dành trọn cho video clip, phim ảnh, họp fan club, bàn luận, tranh cãi thần tượng, làm biến một thứ giải trí bình thường thành mối bận tâm, si mê, cuồng tín. Thời gian, hiệu quả học tập giảm sút do không đầu tư, kết quả học tập kém, nguy cơ bỏ học...

Và có ý kiến đề xuất rằng mỗi người hãy tự ra tay chấn chỉnh với con em mình, đừng để những đồng tiền các bậc phụ huynh vất vả kiếm ra được tiêu tốn vào những nơi vô ích như showbiz và cần cho họ nếm thử mùi vị của một cuộc sống cực khổ ra sao khi không tiền, không quần áo đẹp, không internet, phải lao động việc nhà như giặt đồ, nấu nướng, dọn dẹp nhà cửa thay cho osin để những fan hâm mộ này không còn thời gian rảnh tơ tưởng đến các oppa, unni[34].

Ý kiến của chuyên gia[sửa | sửa mã nguồn]

Theo nhà văn Nhật Chiêu thì bản chất của làn sóng Văn hóa Hàn Quốc chỉ là thứ văn hóa bình dân, vì thực tế, những tác phẩm văn học đỉnh cao Hàn Quốc chưa phổ cập đến Việt Nam. Những người mê Hàn lưu ở Việt Nam đa phần không biết gì về tinh hoa văn hóa Hàn Quốc. Người ta biết tên những ngôi sao ca nhạc, diễn viên truyền hình, say mê nhuộm tóc theo mốt Hàn, ăn thức ăn Hàn, dùng mỹ phẩm Hàn... cho nên cái gọi là Hàn lưu thực chất không phải là tinh hoa văn hóa. Các ngôi sao K-pop không tiêu biểu cho văn hóa Hàn. Họ giống hệt các thần tượng ca nhạc phương Tây về phong cách, trang phục, vũ đạo… nhưng vì Hàn Quốc là quốc gia mới nổi gần đây, chưa đủ thời gian để có thể xuất khẩu tinh hoa có hiệu quả và việc quảng bá tinh hoa khó hơn quảng bá những loại hình đại chúng.[29]

Tại Thụy Điển[sửa | sửa mã nguồn]

Nhờ có Internet, âm nhạc và phim ảnh Hàn Quốc đang thu hút một lượng fan đáng kể ở Thụy Điển và có tiềm năng lớn tạo ra làn sóng Hàn Quốc. Theo một số báo cáo của đại sứ quán Hàn Quốc ở Thụy Điển[35], làn sóng Hàn Quốc đang ngày càng phổ biến trong giới học sinh, sinh viên Thụy Điển - những người rất quan tâm đến văn hóa Pop của Hàn Quốc. Các fan Thụy Điển xem phim truyền hình Hàn Quốc với phụ đề tiếng Anh và nghe nhạc Hàn thông qua các trang web online như YouTube.[35]

Tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Nhật Bản từng có những cuộc cuộc biểu tình chống lại làn sóng Hàn Quốc. Cứ vào mỗi chủ nhật, khoảng 10.000 người lại tập trung tại công viên Odaiba, người cầm quốc kỳ, người vẽ biểu tượng trên mặt và phản đối Lãnh đạo đài truyền hình Fuji TV của Nhật Bản đã chiếu nhiều bộ phim, chương trình ca nhạc từ Hàn Quốc với các khẩu hiệu như: "Fuji TV hãy chấm dứt lan truyền làn sóng Hàn Quốc, chúng tôi không muốn xem phim Hàn Quốc nữa..."[36]

Sự giải thích và tương phản với chủ nghĩa đế quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng sau liệt kê những điểm tương đồng và khác biệt:

Nhân tố so sánh Làn sóng thực dân châu Âu Làn sóng Hàn Quốc
Thời gian Thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 20 Thế kỷ 21 đến nay
Người chơi chính Đế quốc Bồ Đào Nha, Đế quốc Tây Ban Nha, Cộng hoà Hà Lan, Đế quốc thực dân Pháp, Đế quốc AnhĐế quốc Nga SM Entertainment, YG Entertainment, JYP Entertainment, Cube Entertainment, DSP Entertainment, Arirang TV và đài truyền hình KBS
Phạm vi Châu Mỹ, châu Phi, Australiachâu Á Mỹ Latin, Bắc Phi, châu Á và cộng đồng người nhập cưthế giới phương Tây
Mục tiêu và ý định Để đảm bảo tuyến đường thương mại mới, áp đặt văn hoá châu Âu (như ngôn ngữ và tôn giáo) vào người dân bản địa và mở rộng quyền cai trị của Hoàng gia qua các vùng đất bên ngoài Để thúc đẩy lĩnh vực xuất khẩu, giảm bớt tâm lý chống Triều Tiên, thúc đẩy sự thống nhất Triều Tiên và góp phần vào sự tiến bộ của nền hoà bình thế giới thông qua việc giao lưu, trao đổi văn hoá lẫn nhau
Phương pháp Chiến tranh, các Hiệp ước bất bình đẳng và sự nô lệ của người dân bản địa Các buổi hoà nhạc, các chương trình phát sóng và sự phân phối các music video
Hình thức Ép buộc thông qua việc sử dụng vũ lực Thuyết phục thông qua việc dùng sức hấp dẫn
Mối quan hệ với các đối tượng Nô lệ với Chủ nô Người hâm mộ với thần tượng
Dạng ảnh hưởng Quyền lực cứng Quyền lực mềm

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Japanese Women Catch the 'Korean Wave'
  2. ^ Korean Cultural Diffusion in Manipur
  3. ^ Korea.net: The official website of the Republic of Korea
  4. ^ "Korean Wave" Sweeps Uzbekistan — Registan.net
  5. ^ KF Newsletter -The Korea Foundation
  6. ^ a ă Cát Khuê (27 tháng 6 năm 2012). “Văn hóa Hàn - "quyền lực mềm" và mối lo”. Báo Tuổi Trẻ online. Truy cập 17 tháng 4 năm 2013. 
  7. ^ Korean Wave Hallyu Abroad Waning
  8. ^ The Korean Food Wave | My Sinchew
  9. ^ tương đương hơn 223 tỷ đồng Việt Nam
  10. ^ Hạnh Chi (11 tháng 3 năm 2012). “Chiến lược đẩy mạnh làn sóng Hàn Quốc - K-Arts, ba lê và học viện âm nhạc”. Báo Sài Gòn Giải Phóng online. Truy cập 17 tháng 4 năm 2013. 
  11. ^ (tiếng Nhật) “List of million sellers in 2002”. RIAJ. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008. 
  12. ^ a ă Celdran, David. “It's Hip to Be Asian”. PHILIPPINE CENTER FOR INVESTIGATIVE JOURNALISM. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  13. ^ Celdran, David. “It's Hip to Be Asian”. PHILIPPINE CENTER FOR INVESTIGATIVE JOURNALISM. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  14. ^ Kee-yun, Tan. “Welcome back pretty boys”. Asiaone. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  15. ^ Hewitt, Duncan. “Taiwan 'boy band' rocks China”. BBC. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  16. ^ Ying Zhu (2009). TV China. Indiana University Press. tr. 100. 
  17. ^ Heryanto, Ariel (2008). Popular Culture in Indonesia: Fluid Identities in Post-Authoritarian Politics. Routledge. tr. 105. 
  18. ^ Lee, Claire. “Remembering ‘Winter Sonata,’ the start of hallyu”. The Korea Herald. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. 
  19. ^ Lee, Claire. “Remembering ‘Winter Sonata,’ the start of hallyu”. The Korea Herald. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. ‘The show’s popularity in Japan was surprising to many, including the producer Yoon Suk-ho and then-Japanese Prime Minister Junichiro Koizumi, who in 2004 famously said, "Bae Yong-joon is more popular than I am in Japan."’ 
  20. ^ Lee (이), Hang-soo (항수). “홍콩인들 "이영애·송혜교 가장 좋아"”. Chosun Ilbo (in Korean). Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2013. 
  21. ^ Williamson, Lucy. “South Korea's K-pop craze lures fans and makes profits”. BBC. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  22. ^ “Japanese Women Catch the 'Korean Wave'”. The Washington Post. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. “There's only one more thing this single Japanese woman says she needs to find eternal bliss -- a Korean man. She may just have to take a number and get in line. In recent years, the wild success of male celebrities from South Korea -- sensitive men but totally ripped -- has redefined what Asian women want, from Bangkok to Beijing, from Taipei to Tokyo. Gone are the martial arts movie heroes and the stereotypical macho men of mainstream Asian television. Today, South Korea's trend-setting screen stars and singers dictate everything from what hair gels people use in Vietnam to what jeans are bought in China. Yet for thousands of smitten Japanese women like Yoshimura, collecting the odd poster or DVD is no longer enough. They've set their sights far higher -- settling for nothing less than a real Seoulmate.” 
  23. ^ Macintyre, David. “Flying Too High?”. Time Magazine. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. “K-pop has broken across borders: teenagers from Tokyo to Taipei swoon over performers such as singer Park Ji Yoon and boy band Shinhwa, buying their CDs and posters and even learning Korean so they can sing along at karaoke.” 
  24. ^ Farrar, Lara. “'Korean Wave' of pop culture sweeps across Asia”. CNN. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2013. “At the end of May, it was announced that a South Korean band called Super Junior would perform at the Shanghai World Expo. Free tickets would be released for those who arrived early on the day of the performance, which was scheduled for the evening of May 30. On May 29, hundreds of fans, mostly young Chinese women, began lining up for tickets. By the next morning, that number had swelled to nearly 10,000, resulting in a scene so chaotic that police could barely control what turned into a stampede of thousands of girls clamoring for a chance to see one of the most famous boy bands in Asia, arguably even the world.” 
  25. ^ Phạm Hải (8 tháng 1 năm 2011). “"Làn sóng Hàn Quốc" càn quét làng giải trí châu Á”. Báo Thanh Niên online. Truy cập 17 tháng 4 năm 2013. 
  26. ^ “Làn sóng Hàn Quốc suy thoái trầm trọng” (bằng tiếng Việt). Việt Báo. 27 tháng 12 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2012. 
  27. ^ Làn sóng văn hóa Hàn Quốc đang hạ nhiệt - Nguoiduatin.vn - Báo điện tử Người đưa tin
  28. ^ “Việt Nam xếp thứ 4 về mức độ yêu thích làn sóng Hàn Quốc”. phapluattp.vn. 27 tháng 2 2012. Truy cập 26 tháng 7 2012. 
  29. ^ a ă Quỳnh Trang (1 tháng 7 năm 2012). “Làn sóng văn hóa Hàn: Văn hóa bình dân!”. phapluattp.vn. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012. 
  30. ^ Xin hãy nhìn fan Kpop một cách công bằng - VnExpress
  31. ^ Tiếng nói của một người trẻ mê nhạc Hàn - VnExpress
  32. ^ Tâm sự của bà mẹ có con là fan cuồng nhạc Hàn Quốc - VnExpress
  33. ^ Làn sóng Hallyu trên thị trường giải trí Việt - VnExpress
  34. ^ Hạn chế fan cuồng Kpop từ chính mỗi gia đình - VnExpress
  35. ^ a ă Xuân Phương (20 tháng 2 2011). “Làn sóng Hàn Quốc xâm nhập Thụy Điển”. 2sao.vn. Truy cập 26 tháng 7 2012. 
  36. ^ Biểu tình chống làn sóng "Hàn Quốc hóa" - VTC News

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]