Hán Ai Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Ai Đế
漢哀帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Tây Hán
Trị vì 7 TCN - 1 TCN
Tiền nhiệm Hán Thành Đế
Kế nhiệm Hán Bình Đế
Thông tin chung
Tên thật Lưu Hân (劉欣)
Thụy hiệu Hiếu Ai Hoàng đế
Triều đại Nhà Hán
Thân phụ Định Đào Cung vương Lưu Khang
Sinh 26 TCN
Mất 1 TCN
Trung Quốc
An táng Nghĩa Lăng

Hán Ai Đế (chữ Hán: 漢哀帝; 26 TCN – 1 TCN) tên thật là Lưu Hân (劉欣) là vị Hoàng đế thứ 12 của nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông ở ngôi từ năm 7 TCN đến năm 1 TCN.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Hân là con của Định Đào Cung vương Lưu Khang, con trai Hán Nguyên đế, hoàng đế thứ 10 của nhà Hán - em ruột của Hán Thành Đế, hoàng đế thứ 11 của nhà Hán, tức là cháu gọi Thành Đế bằng bác. Mẹ ông là Đinh cơ. Do Hán Thành Đế không có con trai nên khi Lưu Hân mới 3 tuổi đã được cho vào cung, lập làm thái tử.

Năm 24 TCN,cha Lưu Hân là Lưu Khang qua đời, ông được lên kế tục làm Định Đào vương khi mới ba tuổi.

Năm 20 TCN, Lưu Hân cùng chú là Trung Sơn vương Lưu Hưng đến triều kiến Hán Thành đế. Lưu Hân tuân theo tông pháp đưa phó tướng, trung úy. Hán Thành đế hài lòng cho ông là kì tài, cộng thêm bà ông là Phó thái hậu có quan hệ tốt với Chiêu nghi Triệu Hợp Đức nên Hợp Đức xin Thành đế lập Lưu Hân làm thái tử. Thành đế vốn sủng ái Triệu Chiêu nghi nên nghe theo, phong người tôn thất khác là Sở Hiếu vương lên thay làm Định Đào vương, rồi giữ ông lại lập làm Hoàng thái tử.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 7 TCN Thành Đế qua đời, tháng tư năm đó, Lưu Hân được Vương hoàng thái hậu lập lên ngôi tức là Hán Ai Đế. Khi đó ông 19 tuổi.

Ai đế tôn Vương thái hậu làm Thái Hoàng thái hậu, tôn hoàng hậu của Thành đế là Triệu Phi Yến làm thái hậu, tôn mẹ là Đinh cơ làm Cung hoàng hậu.

Giống như Thành Đế, Hán Ai Đế được đánh giá là hôn quân trong lịch sử Trung Quốc[1]. Triều đình Tây Hán đang suy sụp, Ai Đế chỉ ham tửu sắc không màng chính sự.

Thấy tình hình nghiêm trọng, Bào Tuyên dâng sớ lên Ai Đế nói rằng nhân dân đang gặp phải họa "bảy cái mất và bảy cái chết". Bảy cái mất là[2]:

  1. Lụt lội
  2. Hạn hán mất mùa
  3. Thuế khóa nặng nề
  4. Lao dịch tăng
  5. Tham quan ô lại, cường hào nhiều
  6. Giặc cướp
  7. Quân địch quấy nhiễu

Bảy cái chết là:

  1. Quan lại tàn bạo giết dân
  2. Cai ngục giết phạm nhân
  3. Cường hào giết người vô tội
  4. Giặc cướp giết người lấy của
  5. Dân thù hận giết nhau
  6. Dân đói mà chết
  7. Bệnh tật chết nhiều người

Hán Ai Đế bỏ ngoài tai kiến nghị của Bào Tuyên, đày Tuyên đi làm lính thú.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1 TCN, Hán Ai Đế vì tửu sắc quá độ nên qua đời khi mới 24 tuổi, ở ngôi được 6 năm, được tôn là Hán Hiếu Ai hoàng đế. Trong thời gian ở ngôi, ông dùng 3 niên hiệu:

  • Tuy Hòa (7 TCN) [3]
  • Kiến Bình (6 TCN - 3 TCN).
  • Nguyên Thọ (2 TCN - 1 TCN).

Trước khi Ai Đế lên ngôi, họ Vương nắm quyền chi phối triều đình. Khi Ai Đế được lập, các ngoại thích mới nhà Ai Đế gồm họ Phó, họ Phó nổi lên tranh chấp lực khiến họ Vương phải rút đi. Nhưng lúc Ai Đế qua đời, họ Vương nhanh chóng đoạt lại quyền hành.

Ai Đế chết không có con nối dõi, Vương Mãng cho lập con của Trung Sơn Hiếu vương Lưu Hưng là Lưu Khản lên ngôi, là Hán Bình Đế.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, NXB Giáo dục

Hán thư, quyển 11, Hiếu Ai bản kỉ

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 77
  2. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 78
  3. ^ Đây vốn là niên hiệu của Hán Thành Đế, đến đây, Hán Ai Đế tiếp tục sử dụng từ tháng 4 đến tháng 12 năm 7 TCN