Hán Chiêu Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Chiêu Đế
漢昭帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
HanZhaoDiLiuFuling.jpg
Hán Chiêu Đế qua nét vẽ của Diêm Lập Bản, một họa sĩ thời Đường
Hoàng đế nhà Tây Hán
Trị vì 87 TCN74 TCN
Tiền nhiệm Hán Vũ Đế
Nhiếp chính Hoắc Quang
Kế nhiệm Xương Ấp Vương
Thông tin chung
Thê thiếp Thượng Quang Hoàng hậu
Tên thật Lưu Phất Lăng (劉弗陵)
Niên hiệu
Thụy hiệu Ngắn: Chiêu Đế (昭帝)
Đầy đủ: Hiếu Chiêu Hoàng đế (孝昭皇帝)
Miếu hiệu Trung Tông (中宗)
Triều đại Nhà Hán
Thân phụ Hán Vũ Đế
Thân mẫu Câu Dặc
Sinh 94 TCN
Mất 74 TCN
Trung Quốc
An táng Bình Lăng

Hán Chiêu Đế (chữ Hán: 汉昭帝, 95 TCN74 TCN), tên thật là Lưu Phất Lăng (劉弗陵), là vị Hoàng đế thứ tám của triều đại nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Hoa, kế vị Hán Vũ Đế. Khi ông kế vị chỉ mới 8 tuổi, đại thần Hoắc Quang (霍光) đảm nhận vai trò nhiếp chính.

Ông là vị Hoàng đế tài ba, tuy chỉ trị vì được 13 năm (87 TCN - 74 TCN) nhưng được xem như một vị quân chủ có công của nhà Hán.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Phất Lăng là con út của Hán Vũ Đế. Năm ông 4 tuổi (91 TCN), anh cả cùng cha khác mẹ là Lệ thái tử Lưu Cứ (劉據) vì mưu trừ gian thần Giang Sung (江充) mà đã bị vua cha hiểu nhầm là mưu đồ làm phản. Do đó Lưu Cứ đã phải tự tử.

Sau khi Lưu Cứ chết, Hán Vũ Đế định lập Phất Lăng làm thái tử nhưng thấy mẹ của Phất Lăng là Câu Dặc phu nhân (鉤弋夫人) còn quá trẻ, còn mình đã 66 tuổi, Hán Vũ Đế sợ sau khi mình chết, Phất Lăng kế vị còn trẻ thơ thì Câu Dặc phu nhân sẽ thành Hoàng thái hậu, thao túng triều cương. Cho nên Hán Vũ Đế bắt Câu Dặc phu nhân đem đi giết chết[1]. Hán Vũ Đế giao cho Hoắc Quang, em cùng cha khác mẹ với danh tướng Hoắc Khứ Bệnh (霍去病), làm phụ chính vì tài năng của Hoắc Quang, đồng phụ chính là Thượng Quan Kiệt (上官桀).

Năm 87 TCN, Hán Vũ Đế sau 54 năm cai trị đã băng hà, Lưu Phất Lăng lên ngôi tức Hán Chiêu Đế. Mất mẹ từ nhỏ, ông được chị gái là Ngạc Ấp công chúa (鄂邑公主) chăm sóc.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 6 năm đầu, Hán Chiêu Đế còn nhỏ, quyền hành chủ yếu tập trung trong tay Tư mã đại tướng quân Hoắc Quang. Hoắc Quang giúp ấu đế trị nước yên bình. Thế lực nhà Hán vẫn rất cường thịnh. Bên trong hậu cung, Ngạc Ấp công chúa được vời vào cung điện để dạy dỗ Chiêu Đế, từ đó trở thành người cai quản hậu cung.

Yên vương Lưu Đán (劉旦), vốn rất không vừa ý việc lên ngôi của Chiêu Đế bèn nuôi ý định làm phản. Năm 86 TCN, Lưu Đán lôi kéo hai thành viên khác của hoàng tộc là Lưu Trường (劉長) và Lưu Trạch (劉澤). Đầu tiên 2 người sẽ tố cáo Chiêu Đế không phải con ruột của Hán Vũ Đế, rồi Lưu Trạch sẽ phát động binh biến từ Lâm Truy (臨淄, nay là Truy Bác, Sơn Đông, trong khi đó Lưu Đán sẽ dấy binh từ nước Yên. Sự việc bại lộ, nhưng Lưu Đán không bị trách phạt trong khi 2 hoàng thân kia và quân đội theo phản đều bị xử trảm.

Thượng Quan Kiệt và Hoắc Quang đồng nhiếp chính nhưng Thượng Quan Kiệt luôn bị lép vế hơn. Không cam lòng, ông ta luôn ra sức thâu tóm quyền hành trong tay hơn so với Hoắc Quang, dù cả 2 đã thông gia với nhau khi con trai Thượng Quan Kiệt là Thượng Quan An (上官安) đã lấy con gái Hoắc Quang làm vợ, cả 2 sinh được 1 con gái.

Năm 84 TCN, Thượng Quan Kiệt muốn dựa vào thế lực của Hoắc Quang để đưa cháu gái vào cung làm Hoàng hậu của Chiêu Đế, nhưng bị Hoắc Quang phản đối. Thượng Quang An vốn là bạn của người tình của Ngạc Ấp công chúa là Đinh Ngaọi Nhân (丁外人), Thượng Quan An đã nhờ họ Đinh thuyết phục công chúa và hứa sẽ cho Đinh chức tước, công chúa đồng ý và sau đó Thượng Quan thị trở thành Tiệp dư (婕妤).

Năm 83 TCN, Thượng Quan thị được phong làm Hoàng hậu. Năm đó Hoàng hậu mới 6 tuổi và Hán Chiêu Đế cũng mới 12 tuổi.

Trong khoảng thời gian này, với sự gợi ý của Đỗ Diên Niên (杜延年), Hoắc Quang bắt đầu giải quyết những hậu quả chiến tranh mà thời Hán Vũ Đế đã đem lại.

Sau nhiều cuộc tranh luận về sự độc quyền các mặt hàng muối, sắtrượu, thì sắt và rượu đã được bải bỏ lệnh độc quyền của triều đình và các thương nhân có thể thu được lợi nhuận từ các mặt hàng này. Đời sống kinh tế của dân chúng dần được cải thiện sau nhiều năm chiến tranh. Người đứng đầu chính sách độc quyền mặt hàng là Tang Hoằng Dương (桑弘羊) cảm thấy bực bội và sinh oán hận Hoắc Quang.

Diệt trừ cha con Thượng Quan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 81 TCN, Thượng Quan An được phong chức tước Hầu, vì tước phong hiển hách và là cha của Hoàng hậu, ông trở nên ngông cuồng trong triều đình.

Năm 80 TCN, Thượng Quan An, Thượng Quan Kiệt càng có tư thù sâu sắc với Hoắc Quang. Như đã hứa với Đinh Ngoại Nhân, Thượng Quan An muốn phong ông ta tước Hầu, nhưng Hoắc Quang nhất lực từ chối, không cho họ Đinh làm quan triều đình. Việc này không những mất lòng 2 cha con Thượng Quan mà cả Ngạc Ấp công chúa cũng trở nên căm ghét Hoắc Quang.

Nhà Thượng Quan, Ngạc Ấp công chúa, Yên vương Lưu Đán và Tang Hoằng Dương trở thành các thế lực muốn dẹp trừ Hoắc Quang. Họ lập mưu tạo phản, trừ khử Hoắc Quang rồi phế bỏ Chiêu Đế, lập Yên vương Lưu Đán đăng cơ. Kế hoạch của họ là vu cáo Hoắc Quang mưu phản, chỉ chờ khi Hán Chiêu Đế tiến hành điều tra thì sẽ dụng binh ập đến bắt ngay Hoắc Quang.

Một hôm, Hoắc Quang kiểm tra cấm binh rồi điều một viên hiệu úy đến phủ tướng quân nhậm chức. Cha con Thượng Quan giả danh Yên vương, dâng thư cho Chiêu Đế vu cáo Hoắc Quang tạo phản. Không ngờ hoàng đế trẻ nói với họ:

Đại tướng quân (chỉ Hoắc Quang) mới kiểm tra cấm binh xong, Yên vương cách xa ngàn dặm làm sao biết, mà có biết thì phái người cưỡi ngựa đưa tin cũng làm sao nhanh như thế được. Với lại Hán triều binh hùng tướng mạnh, Đại tướng quân muốn tạo phản có thể dùng nhiều tướng tài, sao lại dùng một tên hiệu úy.

Xong Chiêu Đế truyền chỉ: "Bắt kẻ đưa thư, điều tra xem ai vu cáo." Cha con Thượng Quan An vô cùng ngạc nhiên và khiếp sợ, vội tâu với vua rằng chuyện ấy không cần điều tra. Hán Chiêu Đế không nói gì, cho bãi triều. Từ đó Chiêu Đế luôn cảnh giác đề phòng cha con Thượng Quan.

Không lâu sau, cha con Thượng Quan lại tiến hành kế hoạch khác. Họ nhân danh Ngạc Ấp công chúa, dự tính mời Hoắc Quang đến dự tiệc và trong buổi tiệc đó bắt trói và giết chết Hoắc Quang. Sau đó Thượng Quan Kiệt sẽ thủ tiêu luôn Công chúa và Lưu Đán, tự lập làm Hoàng đế. Hoắc Quang được mật báo kế hoạch, tất cả âm mưu đều bị dẹp, Ngạc Ấp công chúa và Yên vương bị buộc tự sát, còn nhà Thượng quan bị tru di tam tộc[2]. Từ đó Hoắc Quang trao trả quyền lực cho Chiêu Đế.

Những năm cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Sau sự việc trên, Hoắc Quang cho thanh trừng và nghiêm khắc trừng trị những phe phái có liên quan đến nhà Thượng Quan, cũng như thẳng tay những ai có âm mưu tạo phản.

Hán Chiêu Đế chăm lo trị quốc, phát triển kinh tế. Vì thế, nhà Hán giữ vững được thời toàn thịnh. Đặc biệt sau này Chiêu Đế có miễn tội cho cháu nội của Thái tử Lưu Cứ là Lưu Tuân (劉詢).

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 74 TCN, Hán Chiêu Đế đột ngột ngã bệnh rồi qua đời nhanh chóng, năm đó ông mới 20 tuổi, ở ngôi 13 năm. Ông truy tôn thụy hiệuHiếu Chiêu Hoàng đế, miếu hiệu là Trung Tông, được táng ở Bình Lăng.

Đời Hán Chiêu Đế đặt 3 niên hiệu:

  • Thủy Nguyên (87 TCN - 80 TCN)
  • Nguyên Phượng (80 TCN - 75 TCN)
  • Nguyên Bình (74 TCN)

Sau đó, Hoắc Quang lập Xương Ấp vương Lưu Hạ (劉賀) làm Hoàng đế, nhưng mới có 27 ngày đã dâm loàn vô đạo, triều cương nhà Hán rối loạn. Hoắc Quang vội tụ tập đại thần rồi tuyên bố phế Lưu Hạ, lập Lưu Tuân làm Hoàng đế, tức Hán Tuyên Đế (74 TCN – 49 TCN), nhà Hán tiếp tục thịnh trị.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thân phụ: Hán Vũ Đế Lưu Triệt.
  • Thân mẫu: Câu Dặc phu nhân Triệu thị (钩弋夫人趙氏, 113 TCN - 88 TCN), bị Hán Vũ Đế ép chết.
  • Hậu cung:
  1. Hiếu Chiêu hoàng hậu Thượng Quan thị (孝昭皇后上官氏, 89 TCN - 37 TCN).
  2. Mông cung nhân (蒙宫人), cùng Lưu Hạ dâm đãng trong cung.

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, XNB Hà Nội
  • Chu Mục, Trần Thâm chủ biên (2003), 365 truyện cổ sử chọn lọc Trung Quốc, tập 3, NXB Thanh niên

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chu Mục, Trần Thâm, sách đã dẫn, tr 305
  2. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 68