Hán Chiêu Đế
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Hán Chiêu Đế, tên húy là Lưu Phất Lăng (95 TCN – 74 TCN) là vị Hoàng đế thứ tám của triều đại Tây Hán trong lịch sử Trung Hoa, kế vị Hán Vũ Đế. Ông là vị vua tài ba, tuy chỉ trị vì được 13 năm (87 TCN – 74 TCN) nhưng được xem như một vị vua có công của nhà Hán.
Mục lục |
[sửa] Thân thế
Lưu Phất Lăng là con út của Hán Vũ Đế. Năm ông 4 tuổi (91 TCN), anh cả cùng cha khác mẹ là Lệ Thái tử Lưu Cứ vì mưu trừ gian thần Giang Sung (vốn được Vũ Đế trọng dụng) mà đã bị vua cha hiểu nhầm là mưu đồ làm phản. Do đó Lưu Cứ đã phải tự tử.
Sau khi Lưu Cứ chết, Vũ Đế định lập Phất Lăng làm thái tử nhưng thấy mẹ của Phất Lăng là Câu Dặc còn quá trẻ, còn mình đã 66 tuổi, Vũ Đế sợ sau khi mình chết, Phất Lăng kế vị còn trẻ thơ thì Câu Dặc sẽ được nhiếp chính, thao túng triều cương. Cho nên Vũ Đế bắt Câu Dặc phải chọn: hoặc là hai mẹ con ra khỏi cung, hoặc tự sát để Phất Lăng lên làm Thái tử. Vì tương lai của con, Câu Dặc chịu chết[1].
[sửa] Cai trị
[sửa] Diệt trừ cha con Thượng Quan
Năm 87 TCN, Hán Vũ Đế qua đời, Thái tử Phất Lăng lên nối ngôi, tức là vua Hán Chiêu Đế. Trong 6 năm đầu, Chiêu Đế còn nhỏ, quyền hành chủ yếu tập trung trong tay Tư mã đại tướng quân Hoắc Quang. Hoắc Quang giúp ấu chúa trẻ trị nước yên bình. Thế lực nhà Hán vẫn rất cường thịnh.
Năm Chiêu Đế 14 tuổi (81 TCN), cha con Thượng Quan An, Thượng Quan Kiệt vì có tư thù với Hoắc Quang nên lập mưu tạo phản. Họ biết một người anh khác mẹ của hoàng đế là Yến vương Lưu Đán rất đố kị với vua em nên bèn hợp mưu với Lưu Đán trừ khử Hoắc Quang rồi phế bỏ Chiêu Đế, lập Lưu Đán làm vua.[cần dẫn nguồn]
Một hôm, Hoắc Quang kiểm tra cấm binh rồi điều một viên hiệu úy đến phủ tướng quân nhậm chức. Cha con Thượng Quan giả danh Yến vương, dâng thư cho Chiêu Đế vu cáo Hoắc Quang tạo phản. Không ngờ hoàng đế trẻ nói với họ: [cần dẫn nguồn]
| “ |
Đại tướng quân (chỉ Hoắc Quang) mới kiểm tra cấm binh xong, Yến vương cách xa ngàn dặm làm sao biết, mà có biết thì phái người cưỡi ngựa đưa tin cũng làm sao nhanh như thế được. Với lại Hán triều binh hùng tướng mạnh, Đại tướng quân muốn tạo phản có thể dùng nhiều tướng tài, sao lại dùng một tên hiệu úy. |
” |
Xong Chiêu Đế truyền chỉ: “Bắt kẻ đưa thư, điều tra xem ai vu cáo.” Cha con Thượng Quan An vô cùng ngạc nhiên và khiếp sợ, vội tâu với vua rằng chuyện ấy không cần điều tra. Chiêu Đế không nói gì, cho bãi triều. Từ đó Chiêu Đế luôn cảnh giác đề phòng cha con Thượng Quan.
Không lâu sau, cha con Thượng Quan cấu kết với công chúa trưởng và Yến vương tạo phản thật. Hoắc Quang đánh bại được quân phản nghịch, công chúa và Yến vương bị Chiêu Đế bức tử, còn nhà Thượng quan bị tru di tam tộc[2]. Từ đó Hoắc Quang trao trả quyền lực cho Chiêu Đế.
[sửa] Những năm cuối
Trong bảy năm còn lại, Hán Chiêu Đế chăm lo trị quốc, phát triển kinh tế. Vì thế, nhà Hán giữ vững được thời toàn thịnh. Đặc biệt sau này Chiêu Đế có miễn tội cho cháu nội của Thái tử Lưu Cứ là Lưu Tuân (về sau là Hán Tuyên Đế).
[sửa] Qua đời
Tháng 7 năm 74 TCN, Hán Chiêu Đế đột ngột ngã bệnh rồi qua đời nhanh chóng, năm đó ông mới 21 tuổi, ở ngôi 13 năm. Ông truy tôn thụy hiệu là Hiếu Chiêu Hoàng đế, miếu hiệu là Trung Tông, được táng ở Bình Lăng.
Đời Hán Chiêu Đế đặt 3 niên hiệu:
- Thủy Nguyên (87 TCN - 80 TCN)
- Nguyên Phượng (80 TCN - 75 TCN)
- Nguyên Bình (74 TCN)
Sau đó, Hoắc Quang lập Xương Ấp vương Lưu Hạ làm vua, nhưng mới có 27 ngày đã dâm loàn vô đạo, triều cương nhà Hán rối loạn. Hoắc Quang vội tụ tập đại thần rồi tuyên bố phế Lưu Hạ, lập Lưu Tuân làm vua Hán Tuyên Đế (74 TCN – 49 TCN), nhà Hán tiếp tục thịnh trị.
[sửa] Thế phả nhà Hán
|
|
|
|
1 Hán Cao Tổ ?-195TCN 256-195TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
5 Hán Văn Đế 180-157TCN 202–157TCN |
|
Lưu Cứ |
|
Lưu Bác |
|
2 Hán Huệ Đế 194-188TCN 210–188TCN |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
6 Hán Cảnh Đế 157-141TCN 188–141TCN |
|
Lưu Tiến |
|
9 Xương Ấp Vương 74-74TCN ?-59TCN |
|
3 Hán Tiền Thiếu Đế 188-184TCN ?–184TCN |
|
4 Hán Hậu Thiếu Đế 184-180TCN ?–180TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
7 Hán Vũ Đế 140-87TCN 156-87TCN |
|
10 Hán Tuyên Đế 74-49TCN 91-49TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
8 Hán Chiêu Đế 95–74TCN 87-74TCN |
|
11 Hán Nguyên Đế 76–33TCN 49-33TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Lưu Khang |
|
Lưu Hưng |
|
Lưu Hiển |
|
12 Hán Thành Đế 33–7TCN 51-7TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
13 Hán Ai Đế 7–1TCN 26-1TCN |
|
14 Hán Bình Đế 9TCN–5SCN 1TCN-5SCN |
|
15 Nhũ Tử Anh 5–8 25–25 5–25 |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
[sửa] Tài liệu tham khảo
- Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, XNB Hà Nội
- Chu Mục, Trần Thâm chủ biên (2003), 365 truyện cổ sử chọn lọc Trung Quốc, tập 3, NXB Thanh niên
[sửa] Chú thích
|
||||||||||||||