Hán Hòa Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Hòa Đế
漢和帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đông Hán
Trị vì 88105
Tiền nhiệm Hán Chương Đế
Kế nhiệm Hán Thương Đế
Thông tin chung
Thê thiếp Âm hoàng hậu
Hòa Hi Đặng hoàng hậu
Hậu duệ
Tên thật Lưu Triệu (劉肇)
Niên hiệu Vĩnh Nguyên 永元 (89 – tháng 3 năm 105)
Nguyên Hưng 元興 (tháng 4 – tháng 12 năm 105)
Thụy hiệu Hiếu Hòa hoàng đế
Miếu hiệu Mục Tông (sau bị bỏ)
Triều đại Nhà Hán
Thân phụ Hán Chương Đế
Thân mẫu Lương quý nhân
Sinh 79
Mất 105
Trung Quốc
An táng Thận Lăng

Hán Hòa Đế (chữ Hán: 漢和帝; 79 – 105), tên thật là Lưu Triệu (劉肇), là vị Hoàng đế thứ tư của nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc, trị vì từ năm 88 đến năm 105.

Thời kỳ cai trị của ông là thời bắt đầu suy tàn của nhà Đông Hán, khi Đậu thái hậu lên nắm quyền và để cho họ ngoại của bà ta thâu tóm hết quyền hành. Sau đó, dưới sự ủng hộ của hoạn quan Trịnh Chủng và anh trai ông là Thanh Hà Hiến vương Lưu Khánh ông đã tiến hành loại trừ ngaọi thích họ Đậu, nắm lại quyền hành.

Với sự kiện này, triều đại của ông lại châm ngòi cho vấn đề hoạn quan can chính, là một trong những nguyên nhân chính yếu gây lũng đoạn chính quyền nhà Đông Hán suốt tới tận hết thời Hán Linh Đế gần cả trăm năm sau.


Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Triệu là con thứ 4 của Hán Chương Đế, mẹ là Lương quý nhân. Trước đó, người anh của ông là Lưu Khánh được Tống quý nhân sinh ra đã được lập làm Thái tử bởi yêu cầu của Minh Đức thái hậu Mã thị.

Lúc đó, Chương Đức Đậu hoàng hậu của Chương Đế không có con, nên bà nhận ông làm con nuôi. Sau khi Mã thái hậu qua đời, bà hại chết Tống quý nhân và khiến Chương Đế phế truất Lưu Khánh. Ông được lập làm Thái tử thay thế, lúc đó ông được 3 tuổi.

Năm 88, Hán Chương Đế mất, thái tử Triệu mới 10 tuổi lên nối ngôi, tức là vua Hán Hòa Đế.

Trừ ngoại thích[sửa | sửa mã nguồn]

Do Hòa đế còn nhỏ và mẹ ông là Lương quý nhân lại không phải là vợ đích của vua cha Chương Đế nên người nắm quyền nhiếp chính là Đậu Thái hậu.

Đậu Thái hậu ủy thác việc triều chính cho anh là Đậu Hiến. Nhà họ Đậu vốn là dòng dõi của Đậu Dung, một người cát cứ cuối thời nhà Tân đã về quy phục Hán Quang Vũ Đế và trở thành người thân với vua Hán.

Đậu Hiến cầm quyền trong triều, có công 2 lần đánh Hung Nô, giữ yên biên giới phía bắc. Nhưng Đậu Hiến tỏ ra chuyên quyền, phong cho mấy anh em cùng cùng làm quan đại thần trong triều, em Hiến là Đậu Cảnh được phong là Chấp kim ngô cầm đầu lực lượng bảo vệ kinh thành. Họ Đậu thao túng triều đình, giết hại các công thần như Lưu Dương, Trí Thiện. Đối với dân chúng, họ Đậu cũng tùy ý bắt bớ, cướp của cải và vợ con, làm người dân khắp kinh thành Lạc Dương oán thán nhưng không ai dám làm gì[1].

Năm 92, Hòa đế đã 14 tuổi, nhận thức được những việc phi pháp của anh em họ Đậu. Ông quyết định ra tay trừ khử. Đậu Hiến cùng con rể là Quách Cử có ý định ám sát nhà vua, tuy nhiên âm mưu này bị phát giác[2].

Hòa Đế bàn mưu với hoạn quan Trịnh Chúng ra tay trước. Ngày 23 tháng 6 năm đó (tức ngày 14 tháng 8 năm 92 theo dương lịch), nhân dịp Đậu Hiến đi đánh Hung Nô trở về triều, Trịnh Chúng mang quân bất ngờ tập kích, bắt hết anh em và thủ hạ họ Đậu. Đậu Hiến bị buộc phải tự sát.

Chính sách[sửa | sửa mã nguồn]

Về cơ bản, Hán Hòa đế duy trì chính sách của các vua đời trước, do đó tình hình trong nước tương đối yên ổn, kinh tế phát triển tốt.

Năm 103, ông ra chiếu chỉ “cấm chỉ tiến cống”, nhờ đó giảm nhẹ cho nhân dân và quan lại các nơi các khoản đóng góp nặng nề và tốn kém; trong đó có cả việc bỏ lệ mang vải tươi, nhãn tươi từ miền Lĩnh Nam dâng lên vua trong dịp tế lễ[3].

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Tân Mùi (3 tháng 12 âm lịch) năm 105, Hán Hòa Đế qua đời khi mới 26 tuổi. Ông ở ngôi 17 năm, dùng các niên hiệu:

  • Chương Hoà (章和 88) [4]
  • Vĩnh Nguyên 永元 (89 – tháng 3 năm 105)
  • Nguyên Hưng 元興 (tháng 4 – tháng 12 năm 105)

Ông được tôn miếu hiệuMục Tông, thụy hiệuHiếu Hòa hoàng đế, thường gọi là Hán Hòa Đế, táng ở Thận Lăng.

Con nhỏ của ông là Lưu Long mới 3 tháng tuổi lên ngôi, tức là Hán Thương Đế.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cha: Hán Chương Đế
  • Mẹ: Lương quý nhân, sau truy phong làm Cung Hoài thái hậu
  • Vợ:
  • Con:
    • Lưu Thắng (劉勝) bị tật nguyền
    • Lưu Long (劉隆), tức là Hán Thương Đế
    • Lưu Bảo (劉保)
    • Lưu Thành (劉成)
    • Lưu Lợi (劉利)
    • Lưu Hưng (劉興)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lê Đông Phương, Vương Tử Kim (2007), Kể chuyện Tần Hán, NXB Đà Nẵng
  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Hoa, NXB Giáo dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr. 98
  2. ^ Lê Đông Phương, Vương Tử Kim, sách đã dẫn, tr. 305
  3. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr. 99
  4. ^ Đây vốn là niên hiệu của Hán Chương Đế, đến đây, Hán Hòa Đế tiếp tục sử dụng từ tháng 2 đến tháng 12 năm 88)