Hán Thành Đế
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Hán Thành Đế (chữ Hán: 汉成帝; 51 TCN – 7 TCN), tên thật là Lưu Ngao (劉驁) là vị Hoàng đế thứ 12 của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông làm vua từ năm 33 TCN đến năm 7 TCN, chứng kiến sự suy yếu của Tây Hán.
Mục lục |
Thân thế[sửa]
Lưu Ngao sinh năm 51 TCN, là con của thái tử Lưu Thích và Vương Chính Quân. Năm Lưu Ngao lên 2 tuổi (49 TCN), ông nội là Hán Tuyên Đế qua đời, thái tử Thích lên nối ngôi, tức là Hán Nguyên Đế.
Năm 46 TCN, Vương Chính Quân được phong làm hoàng hậu, Lưu Ngao được phong làm thái tử. Năm đó ông lên 6 tuổi.
Thế phả nhà Hán[sửa]
|
|
|
|
1 Hán Cao Tổ ?-195TCN 256-195TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
5 Hán Văn Đế 180-157TCN 202–157TCN |
|
Lưu Cứ |
|
Lưu Bác |
|
2 Hán Huệ Đế 194-188TCN 210–188TCN |
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
6 Hán Cảnh Đế 157-141TCN 188–141TCN |
|
Lưu Tiến |
|
9 Xương Ấp Vương 74-74TCN ?-59TCN |
|
3 Hán Tiền Thiếu Đế 188-184TCN ?–184TCN |
|
4 Hán Hậu Thiếu Đế 184-180TCN ?–180TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
7 Hán Vũ Đế 140-87TCN 156-87TCN |
|
10 Hán Tuyên Đế 74-49TCN 91-49TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
8 Hán Chiêu Đế 95–74TCN 87-74TCN |
|
11 Hán Nguyên Đế 76–33TCN 49-33TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
Lưu Khang |
|
Lưu Hưng |
|
Lưu Hiển |
|
12 Hán Thành Đế 33–7TCN 51-7TCN |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
13 Hán Ai Đế 7–1TCN 26-1TCN |
|
14 Hán Bình Đế 9TCN–5SCN 1TCN-5SCN |
|
15 Nhũ Tử Anh 5–8 25–25 5–25 |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Cai trị[sửa]
Năm 33 TCN, Hán Nguyên Đế mất, Lưu Ngao lên ngôi, tức là vua Hán Thành Đế.
Hán Thành Đế bị đánh giá là hôn quân trong lịch sử nhà Hán, chỉ mải mê hưởng lạc không lo việc triều chính[1].
Ông giao hết quyền hành trong triều cho các cậu họ Vương bên mẹ: Vương Phượng làm Đại Tư mã, Đại tướng quân kiêm Thượng thư lệnh và 5 người khác gồm Vương Đàm, Vương Thương, Vương Lập, Vương Căn, Vương Phùng lên tước hầu. Họ Vương lũng đoạn chính sự.
Hán Thành Đế ham tửu sắc. Vì Hứa Hoàng Hậu nhan sắc suy kém, ông phế truất và sủng ái chị em Triệu Phi Yến, Triệu Hợp Đức, phong làm Chiêu nghi.
Hai chị em Triệu Chiêu nghi đều không có con. Cung nhân Tào thị sinh được con trai. Triệu Phi Yến và Triệu Hợp Đức tìm cách giả lệnh vua giết hại hai mẹ con Tào thị và 6 cung nữ[2].
Thành Đế cùng hai chị em họ Triệu hưởng lạc, xây cung Chiêu Nghi rất tốn kém và huy động hàng chục vạn dân phu xây lăng mộ rất lớn và xa hoa cho mình trong hàng chục năm.
Nhân dân khốn cùng bị bóc lột bèn nổi dậy chống lại. Năm 29 Hầu Vô Tích khởi nghĩa ở Đông Quận[3], năm 22 TCN Thân Đồ Thánh khởi nghĩa ở Dĩnh Xuyên[4], năm 18 TCN Trịnh Cung nổi dậy ở Quảng Hán[5], Tô Lệnh nổi dậy ở Sơn Dương,…[6] Năm 19 TCN, cuộc nổi dậy của Tô Lệnh lan ra 19 quận, giết các Thái thú nhà Hán. Triều đình phải cử nhiều binh tướng đi đánh dẹp trong nhiều năm mới dẹp được các cuộc nổi dậy này.
Qua đời[sửa]
Hán Thành Đế qua đời năm 7 TCN sau 26 năm ở ngôi, hưởng dương 44 tuổi. Ông được tôn là Thống Tông Hiếu Thành hoàng đế, thường gọi là Hán Thành Đế.
Trong 26 năm làm vua, Hán Thành Đế đặt ra các niên hiệu sau:
- Cánh Ninh (6 tháng cuối năm 33 TCN) [7]
- Kiến Thủy (建始 32-28 TCN)
- Hà Bình (河平 28-25 TCN)
- Dương Sóc (陽朔 24-21 TCN)
- Hồng Gia (鴻嘉 20-17 TCN)
- Vĩnh Thủy (永始 16-13 TCN)
- Nguyên Đình (元延 12-9 TCN)
- Tuy Hòa (綏和 9-7 TCN)
Do Thành Đế không có con nối nghiệp, người cháu gọi ông bằng bác là Lưu Hân, con của Định Đào vương - em cùng cha khác mẹ với Thành Đế - được ngoại thích họ Vương lập làm vua, tức là Hán Ai Đế.
Xem thêm[sửa]
Tài liệu tham khảo[sửa]
- Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
- Nguyễn Tôn Nhan (1997), Hậu phi truyện, NXB Phụ nữ
- Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, NXB Giáo dục
Chú thích[sửa]
|
||||||||||||||