Hán Thành Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Thành Đế
汉成帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Emperor Cheng of Han, Northern Wei painted screen.jpg
Hoàng đế nhà Tây Hán
Trị vì 33 TCN7 TCN
Tiền nhiệm Hán Nguyên Đế
Kế nhiệm Hán Ai Đế
Thông tin chung
Thê thiếp Hứa hoàng hậu
Triệu Phi Yến
Triệu Hợp Đức
Ban tiệp dư
Tên thật Lưu Ngao (劉驁)
Thụy hiệu Hiếu Thành Hoàng đế
Miếu hiệu Thống Tông
Triều đại Nhà Hán
Thân phụ Hán Nguyên Đế
Thân mẫu Vương Chính Quân
Sinh 51 TCN
Mất 7 TCN
An táng Đình Lăng

Hán Thành Đế (chữ Hán: 汉成帝; 51 TCN – 7 TCN), tên thật là Lưu Ngao (劉驁) là vị Hoàng đế thứ 12 của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông cai trị từ năm 33 TCN đến năm 7 TCN.

Hán Thành Đế bị đánh giá là hôn quân trong lịch sử nhà Hán, chỉ mải mê hưởng lạc không lo việc triều chính[1]. Quyền hành trong triều đều bị phân hóa vào tay họ Vương, dòng họ của mẹ ông là Vương Chính Quân (王政君), đây là tiền đề để Vương Mãng (王莽) giành quyền lực.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Ngao sinh năm 51 TCN, là con của thái tử Lưu Thích và Vương Chính Quân. Năm Lưu Ngao lên 2 tuổi (49 TCN), ông nội là Hán Tuyên Đế qua đời, thái tử Thích lên nối ngôi, tức là Hán Nguyên Đế.

Năm 46 TCN, Vương Chính Quân được phong làm Hoàng hậu, Lưu Ngao được phong làm thái tử. Năm đó ông lên 6 tuổi.

Càng lớn, Hán Nguyên Đế càng không thích Lưu Ngao mà lại thích con trai của Phó Chiêu nghi (傅昭儀) - Sơn Dương vương Lưu Khang (山陽王劉康). Năm 35 TCN, em trai út của Hán Nguyên Đế là Trung Sơn vương Lưu Cánh (劉竟) mất, Lưu Ngao đã tỏ thái độ thiếu tôn trọng với Trung Sơn vương khiến Nguyên Đế rất giận.

Hán Nguyên Đế yêu thích âm nhạc, và Lưu Khang đã ra sức học thổi sáo, chơi trống rất tài năng khiến Nguyên Đế rất vui, trong khi đó Lưu Ngao lại chỉ biết uống rượu và dâm loạn. Vào một hôm, Nguyên Đế ngã bệnh, Phó chiêu nghi và Lưu Khang thường xuyên được vời vào hầu bệnh, dưới tác động của Phó chiêu nghi, Nguyên Đế muốn ra chỉ thay ngôi Thái tử nhưng Đại thần Sử Đán (史丹) khuyên can mới thôi được.

Cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 33 TCN, Hán Nguyên Đế mất, Lưu Ngao lên ngôi, tức là vua Hán Thành Đế, Vương Chính Quân trở thành Hoàng thái hậu. Lưu Khang được cải phong Định Đào vương (定陶王), cai quản vùng Định Đào, còn Phó Chiêu nghi trở thành Định Đào thái hậu (定陶太后). Dù âm mưu phế Thái tử trước đây, nhưng Hán Thành Đế và Vương thái hậu vẫn thân thiết với 2 mẹ con Phó thái hậu, thường triệu về kinh để bớt lời dị nghị từ phía đại thần đối với Lưu Khang.

Ông giao hết quyền hành trong triều cho các cậu họ Vương bên mẹ: Vương Phượng (王鳳) làm Đại Tư mã, Đại tướng quân kiêm Thượng thư lệnh và 5 người khác gồm Vương Đàm, Vương Thương, Vương Lập, Vương Căn, Vương Phùng lên tước hầu. Họ Vương lũng đoạn chính sự. Hán Thành Đế nhiều lần nhận ra sự chuyên quyền của họ Vương nhưng do ảnh hưởng của Vương thái hậu mà nhắm mất làm ngơ.

Nhân dân khốn cùng bị bóc lột bèn nổi dậy chống lại. Năm 29, Hầu Vô Tích khởi nghĩa ở Đông Quận[2], năm 22 TCN Thân Đồ Thánh khởi nghĩa ở Dĩnh Xuyên[3], năm 18 TCN Trịnh Cung nổi dậy ở Quảng Hán[4], Tô Lệnh nổi dậy ở Sơn Dương,…[5] Năm 19 TCN, cuộc nổi dậy của Tô Lệnh lan ra 19 quận, giết các Thái thú nhà Hán. Triều đình phải cử nhiều binh tướng đi đánh dẹp trong nhiều năm mới dẹp được các cuộc nổi dậy này.

Vấn nạn Hậu cung[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cung, Hứa hoàng hậuBan tiệp dư, 2 người được Hán Thành Đế sủng ái đều không có con, đâm ra chán nản. Cùng với sự khuyến khích của Vương thái hậu cùng quần thần, ông bèn tìm nhiều cung tần mỹ nữ vào cung để có người nối dõi.

Năm 19 TCN, sau lần đến phủ Dương A công chúa (陽阿公主), ông gặp được 1 ca nữ tuyệt sắc là Triệu Phi Yến (赵飞燕) cùng người em cũng xinh đẹp không kém Triệu Hợp Đức (趙合德), ngay lúc đó Hán Thành Đế đã say đắm cả 2 người và đưa vào cung phong làm Phi tần. Hứa hoàng hậu và Ban tiệp dư đều bị thất sủng.

Năm 18 TCN, Hứa hoàng hậu bị vu cáo dùng thuật vu cổ để hãm hại Hoàng đế, Vương thái hậu tức giận cho điều tra và phế truất Hứa hoàng hậu. Ban tiệp dư lo sợ mình sẽ lại bị hại như Hoàng hậu, bèn tìm đến Trường Tín cung của Thái hậu, xin hầu hạ nơi đấy, tránh xa Hậu cung. Từ đấy họ Triệu độc sủng hậu cung. Hán Thành Đế muốn phong Triệu Phi Yến làm Hoàng hậu, nhưng do thân phận ti tiện, xuất thân hàn vi nên Vương thái hậu không đồng ý.

Năm 16 TCN, sau nhiều lần thuyết phục và gia phong cho phụ thân của Triệu Phi Yến, Thái hậu cũng đồng ý lập Triệu Phi Yến làm Hoàng hậu, em gái Triệu Hợp Đức cũng được phong làm Chiêu nghi (昭仪). Từ đấy Hán Thành Đế chỉ sủng hạnh hai chị em họ Triệu, cùng họ xa hoa hưởng lạc. Ông cho xây Chiêu Dương cung (昭陽宮), rất tốn kém và huy động hàng chục vạn dân phu xây lăng mộ rất lớn và xa hoa cho mình trong hàng chục năm. Cũng vì ỷ sủng mà sinh kiêu, Triệu Hợp Đức ra sức giết chết các cung tần có thai với Hán Thành Đế, dần khiến Thành Đế đoạn tử tuyệt tôn, trở thành vấn đề nhứt nhối của ông.

Năm 9 TCN, do không có con trai, Hán Thành Đế bèn triệu em trai là Trung Sơn vương Lưu Hưng (中山王劉興) và cháu trai là Định Đào vương Lưu Hân (定陶王劉欣) về Trường An hòng chọn người kế vị. Bà nội của Lưu Hân là Đinh Đào Phó thái hậu (定陶傅太后), đã diện kiến Triệu hoàng hậu cùng những hòm châu báu, mong Hoàng hậu nói giúp với Hán Thành Đế lập cháu mình đăng ngôi, quả nhiên sau đó Hán Thành Đế lập Lưu Hân làm Thái tử.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Hán Thành Đế băng hà năm 7 TCN, sau 26 năm ở ngôi, hưởng dương 44 tuổi. Ông được tôn là Thống Tông Hiếu Thành hoàng đế (統宗孝成皇帝), thường gọi là Hán Thành Đế.

Trong 26 năm cai trị, Hán Thành Đế đặt ra các niên hiệu sau:

  • Cánh Ninh (6 tháng cuối năm 33 TCN) [6]
  • Kiến Thủy (建始 32-28 TCN)
  • Hà Bình (河平 28-25 TCN)
  • Dương Sóc (陽朔 24-21 TCN)
  • Hồng Gia (鴻嘉 20-17 TCN)
  • Vĩnh Thủy (永始 16-13 TCN)
  • Nguyên Đình (元延 12-9 TCN)
  • Tuy Hòa (綏和 9-7 TCN)

Thái tử Lưu Hân lên kế vị, trở thành Hán Ai Đế.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Hứa hoàng hậu (许皇后, ? - 8 TCN), cháu gái Cung Ai hoàng hậu (恭哀皇后), mẹ của Hán Nguyên Đế và là bà nội của Hán Thành Đế. Xuất thân danh môn, đắc sủng nhiều năm nhưng không con, sau bị 2 chị em họ Triệu hãm hại mà phế truất.
  2. Hiếu Thành hoàng hậu Triệu Phi Yến (孝成皇后赵飞燕, 32 TCN - 1 TCN), đệ nhất mỹ nhân, một trong 2 đại mỹ nhân nhà Hán bên cạnh Vương Chiêu Quân (王昭君).
  3. Triệu Hợp Đức (赵合德), phong làm Chiêu nghi (昭仪), đắc sủng làm càng, sát hại hoàng tự, sau khi Hán Thành Đế băng thì bị hạch tội ép tự vẫn.
  4. Ban tiệp dư (班婕妤), tài nữ đương thời, bị Triệu Hợp Đức đe dọa nên đến hầu ở cung Thái hậu.
  5. Vệ tiệp dư (卫婕妤), tên Lý Bình (李平), thị nữ của Ban tiệp dư, sau bị Triệu Hợp Đức hại chết.
  6. Mã tiệp dư (马婕妤), cô của Phục Ba tướng quân Mã Viện (馬援) thời Đông Hán.
  7. Trương tiệp dư (张美人), em gái của sủng thiếp của Vương Phượng.
  8. Hứa mỹ nhân (许美人), sinh 1 hoàng nam vào năm 11 TCN, bị Triệu Hợp Đức giết hại.
  9. Tào cung (曹宫), tự Vĩ Năng (伟能), sinh 1 hoàng nam vào năm 12 TCN, bị Triệu Hợp Đức sát hại.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội
  • Nguyễn Tôn Nhan (1997), Hậu phi truyện, NXB Phụ nữ
  • Nguyễn Khắc Thuần (2003), Các đời đế vương Trung Quốc, NXB Giáo dục

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 75
  2. ^ Thuộc Sơn Đông
  3. ^ Thuộc Hà Nam
  4. ^ Thuộc Tứ Xuyên
  5. ^ Thuộc Sơn Đông
  6. ^ Niên hiệu này thực ra là dùng lại của Hán Nguyên Đế chứ không do Hán Thành Đế đặt ra