Hán Thuận Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hán Thuận Đế
漢顺帝
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Đông Hán
Trị vì 125 – 144
Tiền nhiệm Bắc Hương Hầu
Kế nhiệm Hán Xung Đế
Thông tin chung
Tên thật Lưu Bảo (劉保)
Thụy hiệu Hiếu Thuận hoàng đế
Miếu hiệu Kính Tông
Triều đại Nhà Đông Hán
Thân phụ Hán An Đế
Thân mẫu Lương phu nhân
Sinh 115
Mất 144
Trung Quốc
An táng Hiến Lăng

Hán Thuận Đế (chữ Hán: 漢顺帝), tên thật là Lưu Bảo (劉保), là vị Hoàng đế thứ 8 của nhà Đông Hán trong lịch sử Trung Quốc, cai trị từ năm 125 đến năm 144.

Hán Thuận Đế là con trai duy nhất của hán An Đế, nhưng Diêm thái hậu lại không lập ông lên ngôi sau khi An Đế qua đời mà lập Lưu Ý một hoàng thân khác trong hoàng tộc.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

'Lưu Bảo chào đời năm 115, là con trai của Hán An Đế Lưu Hỗ và Lý phu nhân.

Vì Diêm hoàng hậu không có con, Hán An Đế đã phong cho Lưu Bảo làm thái tử. Diêm hậu sợ Lý phu nhân sẽ tranh ngôi vị bèn đầu độc giết chết Lý phu nhân và cùng Phiền Phong vu cáo Lưu Bảo làm phản.

Hán An Đế nghe lời Phiền Phong bèn phế truất thái tử Bảo, giáng làm Tề Âm vương. Năm 125, An Đế qua đời, Diêm hậu cùng anh là Diêm Hiển mưu lập một người họ xa còn ít tuổi là Bắc Hương hầu Lưu Ý làm vua để dễ điều khiển. Nhưng Lưu Ý chỉ làm vua 7 tháng thì qua đời.

Vua nhỏ chết, Diêm thái hậu và Diễm Hiển bàn nhau đưa quân vào chiếm lấy cung điện và chưa vội phát tang. Hoạn quan Tôn Trình biết mưu đó bèn liên kết với 18 hoàng môn quan, cùng nhau lập Lưu Bảo lên ngôi vua, tức là Hán Thuận Đế.

Diêm thái hậu không thể ngăn trở được và bị đánh bại, sau đó bà ta chết trong lo âu dù Thuận Đế vẫn rất tôn kính bà ta.

Dựa vào hoạn quan và ngoại thích[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi lên ngôi, Thuận Đế sai Tôn Trình dùng Vũ lâm quân bắt giết ngoại thích Diễm Cảnh, bức Diễm thái hậu vào Lý cung, sau đó bắt những ngoại thích khác như Diêm Hiển, Diêm Diệu, Diêm Yến hạ ngục và giết chết.

Dẹp xong ngoại thích, Thuận Đế lại dựa vào hoạn quan. Sau khi Tôn Trình chết, Thuận Đế cho con nuôi Trình là Tôn Bảo nối chức cha, đồng thời dựa vào các hoạn quan khác như Tào Đằng[1], Tào Tiết, liên kết gây bè cánh làm nhiều chuyện rắc rối trong cung đình[2].

Cùng lúc, ngoại thích mới lại dự vào triều chính. Cha Lương hoàng hậuLương Thương được phong Đại tướng quân. Năm 141, Lương Thương chết, con là Lương Ký được nối chức. Vì Lương Ký ít học lại kiêu ngạo và ngang ngược[2] nên gây ra nhiều việc càn rỡ, khiến cho triều đình càng thêm rối ren.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 144, Thuận Đế qua đời khi mới 29 tuổi, ở ngôi được 19 năm. Trong thời gian làm vua, ông sử dụng các niên hiệu sau:

  • Diên Quang (125) [3]
  • Vĩnh Kiến (126-132)
  • Dương Gia (132-135)
  • Vĩnh Hòa (136-141)
  • Hán An (142-144)
  • Kiến Khang (144)

Ông được tôn là Kính Tông Hiếu Thuận hoàng đế, thường gọi là Hán Thuận Đế.

Thái tử Lưu Bỉnh mới 1 tuổi lên nối ngôi, tức là Hán Xung Đế.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đặng Huy Phúc (2001), Các hoàng đế Trung Hoa, NXB Hà Nội

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cha nuôi Tào Tung - cha Tào Tháo
  2. ^ a ă Đặng Huy Phúc, sách đã dẫn, tr 102
  3. ^ Đây vốn là niên hiệu của Hán An Đế, đến đây, Hán Thuận Đế tiếp tục sử dụng từ tháng 11 đến tháng 12 năm 125)