Hát dù kê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hát dù kê là kịch hát truyền thống của nghệ thuật sân khấu hát và múa của người dân tộc Khmer tại tỉnh Sóc Trăng, Cà Mau, An Giang. Được sắp xếp như tuồng dài, kết cấu giống cải lương. Nội dung diễn tả tình yêu quê hương đất nước, nét thân tình của các dân tộc. Được xem là món ăn tinh thần của người dân tộc miền Tây.

Về tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Dù Kê là cách gọi chỉ người Khmer Krom ở Việt Nam dùng và gọi bằng tiếng Việt. Chính xác trong tiếng Khmer không có cụ từ "Dù Kê". Theo từ điển của Ngài Đại đức Cố Tăng thống, Nhà nghiên cứu Khmer học và Phật giáo Campuchia Joun Nath (ជួន ណាត) thì trong tiếng Khmer chỉ có từ Yike (Dì kê) Viết theo chữ Khmer là យីគេ. Tuy nhiên, hiện nay chương trình giảng dạy văn hóa Khmer của trường Đại học Trà Vinh (Một trường được đánh giá là có uy tín nhất Việt Nam về đào tạo Ngôn ngữ và văn hóa Khmer) lại cho rằng tên gọi của nghệ thuật này là Dù kê và viết tiếng Khmer là យូរគេ.

Cách thức tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Phải có cốt truyện từ lúc mở đầu đến lúc kết thúc, được sắp xếp theo chương hồi. Người hát vừa hát diễn nội dung, ý nghĩa của phần đó và phần hồi sắp diễn ra sự kiện nào đó. Mỗi lời hát phải có điệu múa theo điệu nhạc, thể hiện nét di chuyển cả chân và tay thật khéo léo. Người hátngười múa đều phải hóa trang thành những bậc đê vương, ông hoàng, bà hoàng...

Trong sinh hoạt[sửa | sửa mã nguồn]

Hát dù kê là loại hình mà người Khmer vẫn giữ được nét truyền thống nguyên bản. Hát bằng tiếng Khmer, tiếng hát đi với một số nhạc cụ, và điệu múa phụ họa. Thường được biểu diễn tại các lễ hội chùa, đám cưới, lễ hội sinh hoạt văn nghệ.


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]