Hát kể Pansori

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hát kể Pansori
Korea-Busan 3404-06 Pansori.JPG
Hangul 판소리
Romaja quốc ngữ Pansori
McCune-Reischauer P'ansori

Pansori (tiếng Triều Tiên: 판소리, phát âm là p'ansori) là một loại hình âm nhạc truyền thống của Triều Tiên. Đó là một buổi biểu diễn hát và gõ trống, được thực hiện bởi một ca nương gọi là sorikkun (tiếng Triều Tiên: 소리꾼) và một nhạc công gõ trống gọi là gosu (trống được gọi là buk tiếng Triều Tiên: ). Từ "Pansori" được ghép từ "pan" (tiếng Triều Tiên: , có nghĩa là nơi tụ họp của nhiều người) và sori (tiếng Triều Tiên: 소리 nghĩa là âm thanh).

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Là một hình thức nghệ thuật phổ biến của Triều Tiên thế kỷ 19, Pansori thường bao gồm các truyện châm biếm hoặc truyện tình. Một truyện hoàn chỉnh, gọi là madang (tiếng Triều Tiên: 마당) thường kéo dài cả vài tiếng đồng hồ mới hết. Một ví dụ là "Bài ca nàng Xuân Hương" dài đến 8 tiếng biểu diễn không tính thời gian ngừng nghỉ. Một vở madang bao gồm các phiên bản của các aniri (tiếng Triều Tiên: 아니리, bài hùng biện) và changs (tiếng Triều Tiên: , bài hát).

Chỉ có 5 trong số 12 madang này còn lại đến ngày nay. Chúng bao gồm: Heungbuga, Simcheongga, Chunhyangga, JeokbyeokgaSugungga.

Trong một buổi trình diễn Pansori, người kwangdae đứng hát với cây quạt xếp trên tay. Chiếc quạt được múa theo cảm xúc của ca nương và dấu hiệu gấp quạt lại là để báo đã đến màn chuyển cảnh. Nhạc công gosu giữ nhịp không chỉ bằng tiếng trống mà còn bằng các thanh âm chuimsae (tiếng Triều Tiên: 추임새) khác. Một âm thanh chuimsae có thể đơn giản là một nguyên âm vô nghĩa nhưng là một từ ngắn diễn tả sự khích lệ người hát. Khán giả cũng được khuyến khích tạo ra các tiếng chuimsae trong suốt buổi biểu diễn tương tự như tiếng kakegoehoặc các tiếng la ó "Olé" trong buổi diễn flamenco.

Pansori từng được so sánh với sức ảnh hưởng của dòng nhạc Blues của Mỹ.[1] Có rất nhiều phong cách hát, ví dụ như phong các nữ tính sopyonje của miền Tây Nam Triều Tiên (được gợi cảm hứng từ bộ phim Sopyonje tiếng Triều Tiên: 서편제) và phong cách nam tính tongp'yonje tiếng Triều Tiên: 동편제.[2]

UNESCO đã công nhận Pansori là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại vào ngày 7 tháng 11 năm 2003.

Gallery[sửa | sửa mã nguồn]

Các nghệ sĩ Pansori nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Los Angeles Magazine Dec 2000
  2. ^ “'Sopyonje'”. OhmyNews. 24 tháng 3 năm 2006. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]