Hát then

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hát then là một thể loại ca nhạc tín ngưỡng của người Tày, Nùng. Mang trường ca, mang màu sắc tín ngưỡng thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin Ngọc hoàng giải quyết một vấn đề gì đó cho gia chủ.

Nhạc cụ và lời hát[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc là yếu tố xuyên suốt cuộc hát then. Hát then có nhiều bài bản, làn điệu. Người Tày, người Nùng không kể tuổi tác, giới tính, những người mê tín cũng như không mê tín rất thích nghe hát then. Một vài tộc khác như người Mông, Việt ở trong vùng cũng tiếp nhận thể loại hát này trong đời sống tinh thần của mình.

Lời hát theo hình thức diễn xướng tổng hợp ca nhạc Đàn tính, múa, diễn với nhiều tình huống khác nhau. Đảm nhiệm chức năng của một diễn viên tổng hợp. Họ vừa hát, tự đệm, vừa múa và diễn để thể hiện nội dung câu hát, đôi khi còn biểu diễn cả những trò nhai chén, dựng trứng, dựng gươm...

Trong hát then mỗi làn điệu then thì sắp xếp các đoạn khác nhau.có thể hiểu là đi theo những đường khác nhau hay dùng những lời hát khác nhau nhưng đều tuân theo một bài bản và kết thúc đều có kết quả giống nhau, đường đi giống nhau.Trong tất cả thể loại hát then đều qua cùng những chỗ đường đi như nhau.Lúc thì lên rừng núi non thượng ngàn,khi thì lên thiên.Thường là vạn lấy hồn lấy vía siêu lạc ở các chốn về.Hay săn bắt bắn lấy những con thú trên rừng về để giải hạn,khao tổ tiên,khao mẫu sinh hay mẹ sinh(mẫu ban lộc sinh đẻ).Đến đọan cuối cùng là qua hải hay còn gọi là khảm hải:là cửa ải cuối cùng vượt qua đây là đến đc những nơi cần đến như:cửa mẹ sinh,vua cha ngọc hoàng hay vài chỗ quan trọng khác...tùy loại then.xong việc hồi lại binh mã trở về bàn sơn hay bàn thản gốc pháp,khao binh rồi tổ tiên gia chủ là xong việc(khao lao).Tất cả các thể loại then với đội quân binh hùng hậu đều trải qua những chỗ quan trọng sau:1 sắp xếp binh sắp xếp mã chuẩn bị lên đường xế lễ.2 xuất pháp để điều khiển binh lính.3 khao binh.4 kính thầy kính pháp chứng kiến con hiệu đệ tử xê pang.5 xê lễ đến thổ công rồi vào cửa thổ công xét(thổ công nhập vào đồng và phán cho gia chủ biết về đất đai vận hạn)6xê lễ đến bếp (táo quân)rồj vào cửa xét,cửa này có thể 1số lọai then không cần vào.7xê lễ đẳm cha(tổ tiên gja chủ)rồi vào cửa xét.8xê lễ tiếp lên nàng sliên(cửa thánh cửa tiên cửa này ăn chay hoặc ăn mặn tùy vào luật lệ nhà gja chủ và đặc biệt cửa này chỉ có ở người nùng,tày không có nếu có thì được gọi là cửa tướng cửa pật(then)theo cách gọi của người tày.9xê lễ qua nàng sliên rồi lên rừng pắt mèng pắt ngoạn(bắt 1 loại công trùng gần giống với ruồi về để cởi lời thề câu tội và cầu bình an cho trẻ con trong nhà)10 đón vía ở cây lạng rồi đến cây vạt trên trời về.11 lên chợ Đinh Trung trên trời để vui chơi và mua đồ còn thiếu mua tài lộc về cho gja chủ.12 xê lễ đến chỗ mượn gậy yêu tinh để đi lên rừng săn hươu nai.13 xê lễ qua đoạn cầu khắc cầu hai(chỗ mà dành cho những bọn làm then hay làm thầy không kiêng kị đc bị chết oan ở đây để dọn đường dọn xá cho các binh mã xê lễ)14 khao binh mã rồi lên rừng săn hươu nai(sau khja săn đc hươu nai sai lính lấy xuống cửa sông cửa hải để làm rửa sạch rồi làm thịt và sắp cỗ 30 cỗ tạp và 40cỗ chay.15 khảm hải xê lễ qua biển qua hải để tống sao hạn xuống sông và vạn lấy vía về nếu là then nùng thì còn có thêm đoạn hát sli mượt mà để vạn lấy hồn vía về.16 xê lễ đến nơi cần đến và giao lễ cho các thần,vậy là nhjệm vụ của nhà thầy nhà thánh,binh mã đã trọn vẹn,thong thả hồi lại binh mã trở về.vậy là cuộc hành trình dài lên rừng xuống núi,lên thiên xuống biển đã hoàn thành.tiếng hát then thần kì đến mức người đang ốm đau chỉ nge thấy thôi coi như thấy nhẹ lại người.(then có nhiều tác dụng:chữa bệnh,giải hạn,cầu tài cầu lộc,thể hiện một nền văn hoá đa dạng của dân tộc.trên đây là tóm tắt về 1 thể loại then phổ biến của dân tộc nùng phàn slình. Thế Quan Âm

Các vùng hát then[sửa | sửa mã nguồn]

Có ở 5 tỉnh miền núi Việt Bắc: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang. Hiện tại đã xuất hiện ở Tây Nguyên khi người Tày và người Nùng di cư đến. Mỗi vùng làn điệu then lại có những nét độc đáo riêng:

  • Then Cao Bằng dìu dặt tha thiết
  • Then Lạng Sơn tươi vui, rộn Ràng
  • Then Tuyên Quang dồn dập như thúc quân ra trận
  • Then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một
  • Then Bắc Kạn như chuyện kể thầm thì

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]