Hình ý quyền (võ Thiếu Lâm)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Xem các nghĩa khác của "Hình ý quyền" tại Hình ý quyền (định hướng)

Hình ý quyền (tiếng Anh phiên âm từ tiếng HoaXing Yi Quan.[1], còn có tên khác là Lục hợp quyền, xuất xứ từ Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam, có đặc điểm là thế quyền nhanh gọn, gấp gáp, nghiêm ngặt, mạnh bạo so với các môn quyền của trường phái Đạo gia chủ ôn nhu trầm ổn, dìu dặt và khoan thai.

Bài viết này không đề cập đến bài Hình ý quyền (Võ Đang) mà là bài Hình ý quyền còn gọi là Tâm Ý Lục hợp quyền và đôi khi lầm lẫn với tên bài Tâm ý bả cũng của Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam.

Nguồn gốc và danh xưng[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ý quyền "hình, thần kiêm bị". Hình ý quyền là một loại quyền trong võ thuật, còn gọi là "tâm ý quyền", "tâm ý lục hợp quyền" hoặc vắn tắt là "Lục hợp quyền".

  • Về tên gọi của Hình ý quyền cũng có nhiều cách nói khác nhau: có người cho rằng vì loại quyền này yêu cầu "tâm, ý thành ở bên trong, tay chân cơ thể hình ở bên ngoài ", ngoại hình và nội ý phải thống nhất cao độ, do đó mới đặt tên là "Hình ý quyền".
  • Có người lại cho rằng loại quyền này có ý tượng hình, lấy phép làm quyền, biểu hiện sự đặc sắc của nhiều loại động vật như hổ thì dũng mãnh, khỉ thì nhanh nhẹn, v.v.. mà thành tên.
  • Từ đây, bắt đầu có sự nhập nhằng về tên gọi của chúng giữa Hình ý quyềnHình ý linh thú quyền lại cũng được diễn dịch là Hình ý quyền mà lẽ ra nên gọi chính xác là Tượng hình quyền vì các loại quyền thuật này mô phỏng các động tác của các loài động vật hoang dã trong thiên nhiên.

Về nguồn gốc của Hình ý quyền, theo Jacques Nguyễn QuíDufresne Thomas [2] khảo chứng thì do Cơ Long Phong (có chỗ gọi là Cơ Long Phụng, vì hai chữ Phong và Phụng viết dễ lẫn nhau) người Bồ Châu tỉnh Sơn Tây (Trung Quốc) sáng tác ra, cho tới nay đã có hơn 300 năm lịch sử. Tuy vậy lại có người bảo do Nhạc Phi thời nhà Nam Tống sáng tác ra.

Đầu đời Thanh, Hình ý quyền được truyền bá rất rộng rãi ở Sơn Tây, Hà Nam, Hà Bắc (Trung Quốc). Gần trăm năm nay, danh thủ nối nhau. Năm 1914, nhà Hình ý quyền là Hách Ân Quang qua thăm Nhật Bản dạy cho các học sinh du học ở Nhật, do đó đã đưa Hình ý quyền giới thiệu ra nước ngoài. Hiện nay Hình ý quyền không chỉ phát triển ở các nơi trên cả nước, mà ở Đông Nam Á, Nhật Bản, Châu Mỹ... cũng đều có tập luyện Hình ý quyền đồng thời còn có cả đoàn thể và báo chí chyên môn.

Xem thêm Các thuyết khác về Hình ý quyền

Đặc trưng kỹ pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ý quyền lấy ngũ hành quyền (phác, bằng, toản, pháo, hoành tức bổ, hất, chọc, đập, gạt) và thập nhị hình quyền (quyền 12 hình tức long, hổ, hầu, mã, kê, yến, xà, đà, thai, ưng, hùng, báo tức rồng, hổ, khỉ, ngựa, gà, én, rắn, kỳ đà, la, ưng, gấu, báo) làm gốc quyền cơ bản.Về trang pháp thì lấy "tam thế thức" mã, cung, hư bộ làm gốc. Đây chính là Hình ý Linh thú quyền (Xing Yi Animal Fist) sau này của Võ Đang phái.

Các bài múa đơn luyện có: Ngũ Hành liên hoàn, Tạp thức chùy Bát thức quyền, Tứ bả quyền, Thập nhị hồng trùy, Xuất nhập động, Ngũ hành tương sinh, Long hổ đấu, Bát tự công, Thượng trung hạ bát thủ.

Về đối luyện quyền thì có Tam Thủ pháo, Ngũ Hoa Pháp, An Thân Pháo, Cửu Sáo Hoàn. Luyện tập khí giới lấy đao, thương, kiếm, côn làm chủ; phần lớn lấy tam hợp, lục hợp, liên hoàn, tam tài để gọi tên.

Các lưu phái[sửa | sửa mã nguồn]

Một dải Hà Nam lưu hành Hình ý quyền phần lớn gọi là "Tâm ý quyền". Quyền pháp lấy "thập đại hình" (mười hình lớn là long, hổ, kê, ưng, xà, mã, miêu, hầu, dao, yến tức rồng, hổ, gà, ưng, rắn, ngựa, mèo, khỉ, diều, én) và "tứ quyền bát thức" làm quyền pháp cơ bản. Về trang pháp có Kê thoái trang (tấn chân gà), Ưng hùng trang (tấn ưng gấu). Bài bản đơn luyện thì có Long hổ đấu thập hình hợp nhất (mười hình hợp nhất), Thượng trung hạ tứ bả (bốn ngón (quyền) trên, giữa, dưới) v.v.. Đây chính là Hình ý Linh thú quyền lưu truyền ở miền Nam Trung Hoa sau này giống Hình ý linh thú quyền Võ Đang phái.

Các nơi lưu hành Hình ý quyền trừ nội dung có chỗ khác nhau ra, về mặt phong cách cũng có chỗ đặc sắc riêng.

Hình ý quyền ở một dải Hà Bắc quyền thế thư triển, ổn mạnh chắc chắn. Hình ý quyền lưu hành ở Sơn Tây thế quyền gấp gáp, kình lực tinh kéo.

Hình ý quyền ở một dải Hà Nam thì thế quyền dũng mãnh, khí thế hùng hậu.

Hình ý quyền có các đặc điểm sau: Giản dị gọn gàng, chất phác thực tế, tự nhiên. Về động tác thì phần lớn là đến thẳng đi thẳng, một co một duỗi, tiết tấu rõ ràng, chất phác thực tế không có hoa hòe hoa sói, có cái đẹp ở chỗ tự nhiên.

Đặc trưng quyền pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Động tác nghiêm mật gấp gáp, "ra tay như dũa thép, xuống tay như câu liêm", "hai khuỷu không lìa sườn, hai(bàn) tay không lìa tâm (tim)"; khi phát quyền thì vặn, quấn, đục, xoay, với thân pháp, bộ pháp kết hợp chặt chẽ, toàn thân trên dưới giống như đang vặn thừng không chút lơi lỏng.

Trầm tĩnh, ổn định mau lẹ, thân ngay bộ, vững. Yêu cầu ngực nở bụng thực, khí trầm đang điền, cương mà không cứng đờ, nhu mà không mềm xèo, kình lực thi triển trầm thực.

Mau lẹ hoàn chỉnh. Hình ý quyền yêu cầu "lục hợp" tức là tam hợp với ý, ý với khí hợp, khí với lực hợp (gọi là nội tam hợp), vai và háng hợp, khuỷu và gối hợp, tay và chân hợp (giọ là ngoại tam hợp).

Về động tác thì cường điệu phép (pháp) thân trên, tay chân cùng đến, một phát là đến, một tấc (đã) là trước (ý muỗn chỉ tốc độ và độ dài hơn đòn của đối phương). Trong "quyền phổ" có ghi: "Nổi như gió, rơi như tên, đánh ngã (đối thủ) rồi vẫn hiềm còn chậm".

Hình ý quyền coi trọng tam tiết, bát yếu. Tam tiết (ba đốt) là: đốt ngọn nổi, đốt giữa theo, đốt gốc đẩy.

Kể về toàn thân thì đầu và tay (chi trên) là đốt ngọn, thân mình là đốt giữa, chi dưới (chân) là đốt gốc.

Ngay một bộ phận cơ thể cũng có thể chia nhỏ ra thành ba đốt. Lấy tay làm ví dụ, khi ra đòn nắm tay là đốt ngọn, cẳng tay (dưới) cả khuỷu là đốt giữa, cánh tay trên với vai là đốt gốc. Thể hiện tam tiết cốt để đảm bảo toàn thân hoàn chỉnh thành một thể thống nhất, nội ngoại hợp nhất.

Yếu lý quyền pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tám điều cần (bát yếu) là:

  1. Đỉnh: (đẩy lên trên, tức là "đầu phải đảy lên chỏm, chưởng phải đẩy ra trước, lưỡi phải đảy lên hàm ếch, để nối hai mạch nhâm, đốc").
  2. Khâu: khép vào, "vai phải khép, mu bàn chân bàn tay phải khép, (hai) hàm răng phải khép").
  3. Viên: là tròn, tức là "ngực, lưng, hổ khẩu khớp nối ngón tay cái và ngón tay trỏ phải tròn".
  4. Mẫn::là nhạy, tức tâm phải nhạy; chân phải nhạy; tay phải nhạy".
  5. Bão: là ôm giữ, tức là "đan điền phải giữ (khí), tâm phải giữ ý sáng suốt, hai khuỷu phải giữ (sườn)".
  6. Thùy: chúc đầu xuống, xuôi xuống, tức vai phải xuôi, khuỷu tay phải xuôi, khí phải xuôi" -- thuận.
  7. Khúc: là gập lại, tức là "cánh tay gập, chận phải gập, cổ tay phải gập".
  8. Đỉnh: là cứng cỏi tức "kình (lực) phải cứng cỏi, xương sống phải cứng thẳng, đầu gối phải thẳng cứng".

Có như thế mới bảo đảm được các bộ vị, tư thế của thân thể thi triển chính xác.

Đấu pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ý quyền còn bao hàm cả lý luận về giao đấu và nội dung kỹ thuật chiến thuật phong phú. Nó nhấn mạnh dám đánh sẽ thắng, ý thức chiến đấu dũng cảm xông lên. quyền phổ dạy: "Ngộ địch hữu chủ, lâm nguy bất cụ" ("Gặp địch giữ chủ động, gặp nguy chẳng sợ").

Về tư tưởng chiến thuật, có chủ chương mau lẹ đột ngột, tự ta làm chủ, khi giao đấu thì "thừa cơ bất bị nhi công chi, do cơ bất ý nhi xuất chi" (tức "thừa cơ (họ) không chuẩn bị mà tấn công, do cơ hội (họ) không để ý mà ra đòn"), về mặt kỹ thuật công phòng hình ý quyền đề xướng "cận đả khoái công" (đánh gần, tấn công nhanh): "Tiến là né, né là tiến, bắt tất cầu xa".

Hình ý quyền chủ chương bảy ngọn quyền đầu, vai, khuỷu, tay, háng, gối, chân đều cùng dùng, gặp đâu cũng phát đòn "xa thì dùng tay, gần thì dùng khuỷu; xa nữa dùng chân, gần hơn dùng gối". Đồng thời còn yêu cầu kết hợp hư thực, biết mình biết người, thức cơ mà làm, không nên câu nệ kỹ thuật thành chương pháp, làm thế nào để "quyền mà không có quyền, có ý mà không cố ý, không cố ý tức là ý thật" mới được coi là công phu thượng thừa.

Trong lý luận chiếu đấu của Hình ý quyền có sáu nguyên tắc tức là công (sự khéo léo, xảo diệu), thuận(tự nhiên), dũng (quyết đoán), tật (mau lẹ, đột ngột), lang (không nương tay, chẳng dung tình), chân (khiến địch không sao trốn thoát), sáu cách này gọi là "sáu phương ảo diệu".

Phương pháp huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ý quyền chú trọng huấn luyện sức lực.

Công phu bước một là "xây dựng cơ bản, khỏe mạnh thân thể, kiến cho xương cốt rắn như sắt đá", về kỹ thuật đề cao tạo cơ bản thật tốt gọi là công phu "minh kình" (kình lực rõ).

Bước hai yêu cầu luyện "ám kình và hóa kình công phu" (công phu có kình lực ngầm và hóa giải kình lực) yêu cầu toàn thân hoàn chỉnh, cương nhu giúp nhau, tinh thần tập trung, hình thần hợp nhất, lấy ý dẫn dắt cơ thể, lấy khí phát lực. (Theo chu trình cao của công phu là "dùng tâm điều ý, dùng ý dẫn khí, dùng khí thúc kình, dùng kình phát lực").

Có thể thấy Hình ý quyền đối với các công năng sinh lý của các bộ phận trong cơ thể đều có yêu cầu tương đối cao.

Động tác Hình ý quyền ngay ngắn, không dựa dẫm, phép đánh có thể nhu có thể cương, người có thể chất khác nhau đều có thể tùy sức mình mà tập luyện. Những năm lại đây cũng được chọn dùng vào thể dục y học chữa bệnh.

Các thuyết khác về Hình ý quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhận thức rằng Hình ý quyền là một trong ba môn võ hiện được xếp trong Nội Gia mà truyền thuyết cho xuất phát từ núi Võ Đang. Song sự thật là Hình ý Quyền, lúc đầu mang tên Lục Hợp Quyền, bắt nguồn từ Cơ Tế Khả, biệt danh Long Phong (1602-1683), người tỉnh Sơn Tây. Tài liệu có ghi lại là Cơ Tế Khả có viếng chùa Thiếu Lâm. Hiện nay tại chùa vẩn còn lưu truyền bài Tâm ý bả, với đòn thế rất giống môn Hình ý hiện đại.

Cơ Tế Khả có hai người học trò là Tào Kế Võ và Trịnh lão sư. Tào Kế Võ là một vị tướng dưới triều Hoàng đế Khánh Hy (1662-1772), và dạy cho hai anh em Đới Long Bang (khoảng 1713-1802) và Đới Lăng Bang, người thuộc tỉnh Sơn Tây.

Còn Trịnh Lão sư dạy cho Mã Học Lể (khoảng 1715-1790), người tỉnh Hà Nam.

Từ hai nhân vật Đới Long Bang và Mã Học Lể, môn phái Hình ý này chia thành ba chi nhánh.

Từ Mã Học Lể bắt nguồn chi phái Hà Nam, lấy tên Tâm ý Lục Hợp Quyền. Ông chỉ truyền dạy cho người đạo Hồi. Lự Khao Cao (1873-1963) là người đầu tiên dạy ngoài giới Hồi giáo.

Đới Long Bang dạy hai con trai là Văn Lương và Văn Huân, và Lý Lạc Năng (khoảng 1808- 1890), biệt danh Năng Nhiên.

Đới Văn Lương và Đới Văn Huân chỉ dạy trong gia đình, và cho con trai. Cho tới Đới Khôi (1874-1951), vì không có con trai nên mới chịu truyền ra ngoài dòng tộc. Nhờ vậy chi phái Sơn Tây, mang danh là Tâm ý Quyền, mới được phổ biến sau nầy.

Lý Lạc Năng sau khi học với Đới Long Bang, trở về Hà Bắc và thâu học trò tại đây. Từ đó bắt nguồn chi phái Hà Bắc, với tên là Hình ý Quyền. Chi nhánh nầy được nhiều người theo học và được biết hơn hai chi phái kia.

Vào cuối thế kỷ thứ 19, Lý Tồn Nghĩa (1847-1921) và Lưu Vỹ Tường thành lập với hai võ sư Thái Cực quyền và Bát Quái Chưởng, môn Nội Gia Quyền. Từ đây bắt đầu sự lầm lẫn với môn Nội Gia xưa ghi lại bởi Hoàng Tông Hy (1610-1695), và người ta đều nghĩ là Nội Gia bao gồm ba môn Hình ý Quyền, Thái Cực quyền và Bát Quái Chưởng!

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến đấu pháp của Hình ý quyền có thể tóm gọn trong hai câu: "Mạn công trực thủ, hậu phát tiên chí" (tấn công nhanh trên đường thẳng, đi sau tới trước), "Thiếp thân kháo đả, dĩ đoản chế trường" (Đến sát thân địch vừa hất vừa đánh, dùng đòn ngắn thắng đòn dài).

Vì môn đồ Hình ý quyền chuyên đánh trên đường thẳng, nhập vào trung môn (chánh diện), nên không cho địch thủ có cơ hội phát triển đòn công và tuy ra đòn sau nhưng đòn lại tới trước. Khi tới sát địch thì hất hay đánh. Chi phái Hà Nam chuyên về hất. Nhưng lúc địch thủ nhanh hơn, thì môn sinh Hình ý quyền chạy tấn công bên hông.

Kình lực được phát huy qua sự phối hợp giữa bộ tiến, eo xoay, cột xương sống trôi lên sụp xuống và đòn tay đánh tới.

Tuy là môn phái miền Bắc Trung Quốc nhưng sử dụng nhiều đòn tay hơn đòn đá. Đòn đá lại không quá bụng. Đòn thế lúc phát thì có kình. Chi phái Hà Bắc đòn thế ngắn gọn, đơn giản dựa trên 17 thế căn bản là Ngũ Hành quyền và Thập nhị Hình quyền. Những bài quyền có Ngũ hành liên hoàn quyền, Thập nhị hình quyền, Tạp thức trùy, Tứ bả quyền, Thập nhị hồng trùy...

Chi phái Sơn Tây giống chi nhánh Hà Bắc hơn. Chương trình huấn luyện bao gồm Ngũ hành quyền, Thập đại hình, Giao tế tứ bả, Ngũ thãng hạp thế...

Chi nhánh Hà Nam thì khác hẳn hai hệ phái trên, đòn thế rộng hơn, mạnh bạo hơn, căn bản chỉ có Thập đại Hình Quyền. quyền thuật có những bài Thập đại hình, Tứ bả trùy...

Và phải nói tới môn ý quyền (còn có tên là Đại Thành Quyền), sáng lập do Vương Hương Chai (khoảng 1885-1963) trên nền tảng Hà Bắc Hình ý quyền pha lẩn với vài môn võ khác. Môn nầy không có bài quyền, và rất chú trọng tới phần ý hơn là phần Hình, nên đặc biệt luyện tập Trạm thung (môn sinh đứng bất động giữ một tư thế và hít thở).

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Hình Ý quyền - Nguồn gốc và các chi phái của Jacques Nguyễn QuíThomas Dufresne

Một vài khảo sát[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ý quyền là môn võ miền Bắc Trung Quốc, có nguồn gốc từ chùa Thiếu Lâm tại tỉnh Hà Nam, với nhiều đòn tay hơn đòn chân, đòn thế đơn giản và mạnh bạo. Môn nầy không có liên quan lịch sử với môn Nội Gia quyền ghi lại bởi Hoàng Tông Hy vào thế kỷ thứ 17, như hiện nay nhiều võ sư lầm tưởng.

Hình ý quyền mà thật ra phải gọi đúng tên của nó là Lục Hợp Quyền là một môn quyền của Thiếu Lâm mà ban đầu xuất xứ được lưu truyền khắp dải Sơn Đông, Hà Bắc. Lục Hợp có nghĩa là: Nội tam hợp (Ý - Khí - Lực), và Ngoại tam hợp (Thân - Thủ - Bộ). Môn này sau này được lưu truyền trong phái Thiếu Lâm Vy Đà Môn của dòng họ Vạn Lại nổi tiếng khắp vùng Hoa Bắc Trung Hoa.

Môn Hình ý quyền này, tức là Lục Hợp Quyền, được lưu truyền rằng có một tên khác là Tâm ý Bả (không nên lầm lẫn với bài Tâm ý Quyền khác nữa cũng được sáng tạo và truyền dạy tại Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam) được truyền dạy bảo mật trong các Thiền phòng và các tu viện của chùa Thiếu Lâm tại Tung Sơn, Hà Nam.

Bài Tâm ý Bả này là một trong những bài quyền xuất hiện rất sớm tại chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam từ khi chùa mới được thành lập vào thời nhà Bắc Ngụy (386-534) dưới triều Hiếu Văn Đế (471-499).

Nội dung của bài Lục Hợp Quyền, hay Tâm ý Bả, rất hợp với phong thái và nội dung của giáo pháp Thiếu Lâm quyền đề cao sự hòa hợp Thân-Tâm trong nội dung giáo lý của Phật giáo Thiền tông.

Còn Hình ý quyền (mà có lẽ là Hình ý Linh thú quyền) tương truyền do Nhạc Phi (Yue Fei), một danh tướng thời Nam Tống sáng tác và Hình ý quyền của Trương Tam Phong sư tổ Võ Đang Phái không biết có khác gì với Hình ý Linh thú quyền tức là Tượng Hình Quyền đang được lưu truyền trong dân gian bắt chước theo các bộ dạng mô phỏng và cách điệu lên các động tác của các loại động vật giống như Ngũ Hình quyền (Long, Xà, Hổ, Báo, Hạc) của Thiếu Lâm vậy.

Ngoài ra còn có nhiều lưu phái Hình ý quyền được lưu truyền trong dân gian lẽ ra phải gọi đúng tên của chúng là Hình ý Linh thú quyền hay chính xác hơn là Tượng Hình Quyền vì các dạng quyền thức của chúng được mô phỏng theo động tác của các loài động vật hoang dã trong thiên nhiên [3].

Sau đây là trích đoạn Lục Hợp Quyền trong tác phẩm Lục Hợp Quyền, Lục Hợp Đao, Lục Hợp Thương của phái Vy Đà Môn (Thiếu Lâm) do cố võ sư Vạn Lại Thanh thủ tác Trung văn, dịch giả Hương Giang, nhà xuất bản Tủ Sách Võ Thuật xuất bản tại Sài Gòn trước năm 1975 để bạn đọc tham khảo thêm và mở rộng đường dư luận. Nguyên văn như sau:

"... Luận về Lục Hợp Quyền

Lục Hợp quyền là của Vy Đà Môn thuộc Thiếu Lâm phái, nên cũng có tên là Vy Đà quyền, nhưng sở dĩ gọi là Lục Hợp quyền vì có Nội tam hợp và Ngoại tam hợp.

Nội tam hợp gồm Tinh, Thần, Khí, Ngoại tam hợp gồm Thủ, Nhãn, Thân. Nội ngoại có tương hợp thì mới có thể luyện quyền mà chế thắng đối phương. Lại còn cần có sự hợp nhất của Ngũ hành và Tứ tiêu mới có thể thành công. Ngũ hành gồm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; Tứ tiêu thì răng gọi là Cốt tiêu, lưỡi gọi là nội tiêu, lỗ chân lông trên toàn thân gọi là Huyết tiêu, ngón chân ngón tay gọi là Cân tiêu.

Có người nói rằng, Lục hợp là Nhãn hợp với Tâm, Tâm hợp với Khí, Khí hợp với Thân, Thân hợp với Thủ, Thủ hợp với Cước, Cước hợp với Khóa (cái háng). Nhưng như vậy chẳng qua cũng chỉ là nói về ý nghĩa của Lục hợp mà thôi.

Nay có người nói tới Bát thức của vũ công, tức là nói về Nhĩ, Mục, Thủ, Túc. Luyện vũ công là phải luyện Bát thức. Bát thức lại phân làm Thượng tứ thức và Hạ tứ thức, tức là nói về chân và tay. Thượng tứ thức là Lũ Đả Đằng Phong, Hạ tứ thức là Thích Đàm Tảo Quải. Quyền cước Bát thức cũng lại là Bát hình. Bát hình là Miêu xuyên, Cẩu thiểm, Thố cổn, Ưng phiên, Tùng tử linh, Tế hung xảo, Diêu tử phiên thân, và Đọa tử cước.

Bát thức của ngành võ công như Bát pháp của ngành văn. Nhưng đến trình độ nào thì sử dụng được Bát pháp của ngành văn, cũng như tới trình độ nào thì vận dụng được Bát thức của ngành võ ? Ấy là phải như bậc văn thánh là Khổng Phu Tử và bậc võ thánh là Nhạc Vũ Mục vậy.

Lục hợp quyền của môn phái Vy Đà là môn quyền thuật có thề luyện tập bằng bất cứ bộ phận nào trên thân thể. Môn phái Vy Đà là có tất cả 24 bí thuật quyền cước, bí thuật thông dụng chỉ chừng bảy tám, trong đó Lục hợp quyền là căn bản công phu nhất.

Cuối đời Thanh, người có công phu tinh luyện về môn quyền này là Thần Thương Lưu Kính Viễn tiên sinh ở Thương châu Hà Bắc. Môn quyền này còn có Xích cừu liên quyền, là một thể thức Hầu quyền, khi luyện tập, hai người cùng luyện cùng đấu, một tay mà phân làm ba tay, phạm vi ứng dụng thật rộng lớn.

Môn phái Vy Đà căn cứ theo Tam Tài, Ngũ hành, Thất tinh, Bát quái, Cửu quan, lại dựa theo Bát phong của trời, Bát biến của đất, Bát thức của người (Bát thức gồm 2 tay, 2 chân, 2 tai, 2 mắt) mà nghiên cứu. Phép đánh thì có Bát đả, Bát phong, Bát bế, Bát tiến, Bát thoái, Bát cố, Bát thức và Bát biến, tổng cộng là 64 phép. Thêm vào đỏ còn có lục bả tổng quyền pháp. Về môn khí giới thì có Lục hợp đao pháp, song kiếm, đơn câu, là những phép mà các môn phái khác chưa có. Phép động thủ thì có Lục tuyện thối, gồm Khổn thối, Liên thối, Chuyển hoàn thối, Tiệt thối, Xước thối và Liêu âm thối. Những phép này đều là tinh túy của môn phái Vy Đà.

Lục hợp quyền phổ chép lại dưới đây gồm 24 mục, có thể xen hình vẽ mà tập luyện, ích lợi không phải là ít vậy.

..."

Trong Thiếu Lâm quyền Phổ của chùa Thiếu Lâm Tung Sơn Hà Nam [4] thì lại trưng bày ra nguyên bản bài Tâm ý Bả lại có nội dung đường quyền khác với bản Lục Hợp quyền này khá nhiều. Song xem kỹ lại, ta cũng có thể nhận ra những nét chính cơ bản vẫn là phong cách quyền pháp của Phật gia chủ về phép đánh nghiêm ngặt, chặt chẽ trong các động tác, cường dương ngoại tráng, thế đánh gấp rút, thần thái uy nghi khác hẳn với phong thái tiêu diêu nhàn nhã và tự tại của các đường quyền thuộc trường phái Đạo gia, thật là đúng với câu ngạn ngữ dân gian được lưu truyền trong thiên hạ ở Trung Hoa xưa và nay "Bắc có Thiếu Lâm, nam có Võ Đang ", quả nhiên y như là một trời một vực cách nhau xa lắm.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Không nên lầm lẫn với Hình ý quyền sau này tương truyền do danh tướng Nam TốngNhạc Phi và đạo sĩ Trương Tam Phong sư tổ của Võ Đang Phái sáng tạo. Hình ý quyền này không biết có phải là Hình ý linh thú quyền như nguyên văn chữ Hán khi phiên âm sang tiếng Anh là Xing Yi Animal Fists hay có thể dịch ra là Tượng hình quyền là tên chung cho tất cả các dạng quyền thuộc loại này của các võ phái Trung Hoa, và còn một bài Hình ý quyền khác nữa là bài quyền của riêng của Võ Đang phái sau này.
  2. ^ Xem chi tiết trong bài Lịch sử quyền thuật Trung Quốc, những giai đoạn quan trọng tại mục số 3- Từ thế kỷ thứ 17 tới thế kỷ thứ 19 của Jacques Nguyễn QuíDufresne Thomas - bản tiếng Việt
  3. ^ Xem Tượng Hình Quyền
  4. ^ Đã được dịch sang tiếng Việt với tên là Thiếu Lâm, các bài quyền cơ bản, nguyên tác Trung văn Thiếu Thất Sơn Nhân, dịch giả Hồ Tiến Huân, nhà xuất bản Thể Thao Hà Nội, trọn bộ 23 tập Thiếu Lâm Bách Khoa Toàn Thư

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]