Húy kỵ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Kị húy hay kiêng húy (đôi khi gọi là húy kị hoặc tị húy) là cách viết hay đọc trại một từ nào đó do bị kiêng kị trong ngôn ngữ văn tự xã hội[1][2] tại các nước quân chủ chuyên chế trong khu vực văn hóa chữ Hán. Theo luật, trong phạm vi quốc gia, mọi thần dân kiêng kị tên huý của vua, không được phép dùng để đặt tên cho con cái trong gia đình, cũng như không được phép dùng trong văn tự hay trong lời nói hàng ngày. Trong phạm vi gia đình, do truyền thống văn hóa, con cái có thể kiêng gọi tên thật ông bà tổ tiên. Trong đời sống xã hội, có thể do mê tín dị đoan mà người dân tránh dùng một chữ nào đó.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Kỵ húy có nguồn gốc từ Trung Quốc từ rất lâu và ảnh hưởng tới nhiều quốc gia trong khu vực văn hóa chữ Hán.

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam có lịch sử một ngàn năm đô hộ của Trung Quốc nên chịu ảnh hưởng nền văn hóa Trung Quốc, trong đó có văn hóa "húy kỵ". Lệnh kiêng húy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam được ban hành tháng sáu năm Kiến Trung thứ tám (1232) dưới thời Trần Thái Tông[3]. Lệnh vua đã ban thì thần dân phải thi hành; và đương nhiên con cháu nhà Lý phải từ bỏ gốc gác họ hàng của mình để được tồn tại. Lệnh kiêng húy do vua ban ra để giữ vẻ uy nghi của ngai vàng, kẻ nào phạm húy sẽ bị tru di tam tộc.

Sang triều Hậu Lê, ngày 20 tháng 4 âm lịch năm 1428, sau khi lên ngôi được 5 ngày[4] Lê Thái Tổ đã ban bố ngay lệnh kiêng húy rộng rãi nhất lịch sử[1]: Kiêng đến nhiều loại húy: quốc húy (gồm chính húy và thường húy), tên húy, gia tộc kính húy và dân gian húy[5].

Và từ đó đến mãi thời nhà Nguyễn, lệnh kiêng huý tiếp tục duy trì, nhiều thời được áp dụng một cách khắt khe. Do kiêng huý mà những danh nhân đất Việt đã một thời biến thành tên khác như Ngô Thì Nhậm (Ngô Thời Nhiệm), Phan Châu Trinh (Phan Chu Trinh), Châu Thượng Văn (Chu Thượng Văn)[cần dẫn nguồn]...

Húy kỵ dưới triều đại phong kiến Việt Nam, đặc biệt Quốc húy dưới thời các vua Nguyễn, khá phức tạp. Húy kỵ đã được nâng lên thành Quốc luật, làm thay đổi một phần ngôn ngữ. Có nhiều chữ Nho do viết theo lối húy kỵ (thêm bộ chữ hoặc thêm bớt nét) mà biến thành dạng chữ khác ở cả cách đọc và cách viết[5].

BẢNG LIỆT KÊ NHỮNG CHỮ QUỐC HÚY THỜI NGUYỄN THƯỜNG GẶP
Âm chính
  • cam
  • mai
  • hoàng
  • nguyên
  • lan
  • tần
  • ngàn
  • thụy
Âm trại
  • kim
  • mơi
  • huỳnh
  • ngươn
  • lang, lam
  • tờn
  • nghìn
  • thoại
Âm chính
  • lĩnh
  • chu
  • được
  • thụ
  • thư
  • dong
  • hoàn
  • phúc
Âm trại
  • lãnh
  • châu
  • đặng
  • thọ
  • thơ
  • đông
  • hườn
  • phước
Âm chính
  • ánh
  • chủng
  • đang
  • đảm
  • kiểu
  • hoa
  • thật
  • miên
Âm trại
  • yên, yếng, ảnh
  • chưởng
  • đương
  • đởm
  • cảo
  • huê
  • thiệt, thực
  • mân
Âm chính
  • chính
  • tông
  • dung
  • tuyền
  • hằng
  • hạo
  • nhậm
  • hồng
Âm trại
  • chánh
  • tôn
  • dong
  • toàn
  • thường
  • hiệu
  • nhiệm
  • hường
Âm chính
  • thì
  • hài
  • chân
  • đường
  • cảnh
  • lân
  • san
  • điều
Âm trại
  • thời
  • hia
  • chơn
  • đàng
  • kiểng
  • liên
  • sơn
  • đều

Ngoài tên riêng là nguyên tổ và vua, nhiều khi tên của những người thân thuộc với vua cũng được kiêng như: cha, mẹ, vợ, con, anh, em,... và có khi đến hàng ông nội, bà nội, tên giả, chữ đệm của vua cũng được kiêng[6].

Hiện tượng biến đổi từ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài hiện tượng nói trại do kiêng huý, nhiều danh từ khác cũng được nói trại so với ngôn ngữ phổ thông như: đàn (nhạc cụ) thành đờn, sinh (đẻ) thành sanh, chính (chính trị, hành chính, chính sách, chính nghĩa,...) thành chánh, nàng thành nường, phụng (loài chim) thành phượng, long thành luông,tụng kinh thành tuộng canh, thủy thành thoải, ba thành bơ v.v...

Thay đổi địa danh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời nhà Lê, vì kiêng tên chúa Trịnh Giang mà Cẩm Giang gọi là Cẩm Giàng hay tên chúa Tây Vương Trịnh Tạc mà Tây Châu phải đổi là Nam Châu.[7] Vào đầu thời nhà Nguyễn phong tục này tiếp tục không những được duy trì mà còn mở rộng, Gia Long bắt kiêng cả tên con dâu 15 tuổi mới cưới về tên là Hồ Thị Hoa, do đó, chợ Đông Hoa phải đổi là chợ Đông Ba, cầu Hoa đổi là cầu Bông. Do chữ "Thiên" phạm đến Trời nên cho đổi từ chùa "Thiên Mụ" thành chùa "Linh Mụ". Có nhiều từ ngữ khác, nhất là địa danh do kiêng huý mà biến đổi, nay đã thành quen thuộc: Trấn Thanh Hoa, đến thời Minh Mạng chuyển thành tỉnh, bị gọi là tỉnh Thanh Hóa[1], Kỳ Hoa chuyển thành Kỳ Anh hay sông Minh Lương (sông Bến Hói) đổi thành sông Hiền Lương, xã Trà Hương (tổng Trà Hương, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương) đổi thành Trà Phương...

Tại Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt lịch sử Trung Quốc, có những hoàng đế có tên húy là những chữ thông dụng, nên đã tìm cách để việc kiêng húy trở nên bớt nặng nề đối với thần dân. Chẳng hạn, Hán Tuyên Đế có húy là Bệnh Dĩ (病已) chứa hai chữ Hán rất phổ biến nên đã đổi tên thành Tuân (詢), một chữ ít phổ biến hơn.[8] Tương tự, Đường Thái Tông Lý Thế Dân (李世民) có hai chữ rất phổ thông là ThếDân chỉ bị cấm dùng với nhau mà không bị cấm dùng khi đứng đơn lẻ. Tuy nhiên, con trai ông là Đường Cao Tông đã yêu cầu cấm dùng hai chữ này hoàn toàn sau khi vua cha mất, điều này khiến tể tướng Lý Thế Tích phải đổi tên thành Lý Tích.[9]

Quảng Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Do âm Quảng Đông khác với âm quan thoại nên nhiều chữ Hán khi đọc bằng giọng Quảng Đông có thể có nghĩa tiêu cực, nên một số danh từ Hán văn đã bị thay đổi trong cộng đồng người Quảng Đông:

  • 空屋 (không ốc, nghĩa là "phòng trống"): 空 đọc theo tiếng Quảng Đông giống âm 凶 (hung, tức "bất hạnh"), do vậy thay 空 bằng từ trái nghĩa của 凶 là 吉 (cát, tức "may mắn"), và 吉屋 (cát ốc) trở thành từ chỉ "phòng không nhà trống" trong tiếng Quảng Đông.
  • 通書 (thông thư, nghĩa là "biên niên lịch"): 書 đọc theo tiếng Quảng Đông đồng âm 輸 (thâu, tức "thua"), do vậy thay 書 bằng từ trái nghĩa của 輸 là 勝 (thắng), và 通書 (thông thư) trở thành 通勝 (thông thắng).

Tại Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Bán đảo Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ mã ký tự KPS 9566 của Triều Tiên quy định thêm 6 ký tự đặc biệt dành cho tên của hai lãnh tụ của họ là Kim Il-sung (김일성) và Kim Jong-il (김정일) mà không sử dụng các ký tự Hangul sẵn có trong bộ mã. Sáu ký tự này nằm ở vị trí mã 04-72 đến 04-77, với dạng phông chữ đặc biệt, được in đậm so với các ký tự cùng tên thông thường, trong đó ký tự dành cho họ Kim (김) được mã hóa hai lần (vị trí mã 04-72 và 04-75)[10].

Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Phương pháp tránh phạm húy[sửa | sửa mã nguồn]

Đổi chữ Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Thay chữ Hán này bằng chữ Hán khác (còn gọi là cải dụng (pháp)), thông thường áp dụng đối với trọng húy (chữ húy nặng, thường là tên vua). Ví dụ:

Thông thường việc thay chữ một chữ kiêng húy bằng một chữ đồng nghĩa hoặc đồng âm. Chẳng hạn Huyền Vũ môn 玄武門 (xuán wǔ mén) ở Tử Cấm Thành được đổi thành Thần Vũ môn 神武門 (shēn wǔ mén) để tránh tên của Khang Hi là Huyền Diệp (玄燁).

Bỏ chữ Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Tức là bỏ trống ô chữ, còn gọi là không tự (pháp). Ví dụ:

Viết biến dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thật của Khang Hi là Huyền Diệp (玄燁) được bỏ bớt nét trên mỗi chữ.

Chữ Hán kiêng húy có thể được thêm nét, bớt nét (gọi là khuyết bút), dùng chữ dị thể hoặc đảo bộ. Đời nhà Trần quy định về tị húy thường là viết bỏ bớt nét hoặc thêm vòng tròn nhỏ kế bên chữ. Đời nhà Lê thường viết thêm trên chữ húy 4 hay 3 nét gãy (<<<< hay <<<). Việc bỏ một nét (khuyết nhất bút) thường là nét cuối cùng, và được áp dụng đối với khinh húy (chữ húy nhẹ, thường là tên tổ tiên vua). Ví dụ, tên thật của Khang Hi là Huyền Diệp (玄燁) được bỏ bớt nét trên mỗi chữ (xem hình bên).

Đổi âm đọc[sửa | sửa mã nguồn]

Vẫn giữ chữ Hán nhưng chỉ thay đổi cách đọc, cách này thường phổ biến tại Việt Nam. Ví dụ:

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc húy[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc húy là việc tránh tên thật của đế vương và tổ tiên của ông ta. Chẳng hạn như vào thời nhà Tần, tên húy của Tần Thủy Hoàng là Chính (政) bị cấm không dùng, nên tháng đầu tiên "chính nguyệt" (政月: tháng hành chính) được đổi thành "chính/chinh nguyệt" (正月: tháng ngay thẳng) rồi sau đó lại đổi thành "đoan nguyệt" (端月: tháng ngay thẳng). Chữ 正 cũng phải được đọc bằng âm khác (zhèng đổi thành zhēng) để tránh đồng âm. Hơn thế nữa, cấm dùng tên tổ tiên của vua chúa tính đến bẩy đời về trước. Việc cấm này được luật hóa, những ai phạm húy sẽ bị trừng phạt nặng.

Dân gian kính húy[sửa | sửa mã nguồn]

Trong dân gian, người ta có thể kiêng tên các vật linh thiêng. Một trường hợp phổ biến là cọp được đổi thành "Ông Ba Mươi", hay lửa đổi thành "Bà Hỏa". Các cư dân miền biển vì kính trọng cá voi xanh, thần hộ mệnh cho người đi biển nên họ không gọi thẳng tên mà dùng tên gọi "(Cá) Ông (Nam Hải)". Mỗi khi có cá chết dạt vào bờ, người dân tổ chức tang lễ rất trang trọng và dựng lăng cho cá gọi là Lăng Ông.

Gia húy[sửa | sửa mã nguồn]

Gia húy hoặc tộc húy là việc tránh nói tới hoặc kiêng dùng tên ông bà cha mẹ trong phạm vi gia đình, do truyền thống tôn trọng tổ tiên tại Á Đông. Đối với tổ tiên đã khuất, sự kiêng cử càng được tôn trọng và đặt nặng. Khi đặt tên cho con cái, bố mẹ phải tránh dùng tên của tổ tiên và của những người bề trên trong dòng họ. Trong đời sống hàng ngày, khi gặp những tiếng trùng với tên ông bà, cha mẹ, tổ tiên, thì con cháu phải gọi chệch đi, hoặc tìm một từ đồng nghĩa thay thế. Thậm chí vào thời trước, có những người khi vào nhà ai phải hỏi tên huý để kiêng, hoặc nếu có mừng câu đối cho ai thì cũng phải hỏi trước chủ nhà để xem có chữ gì phạm huý thì bỏ đi.

Thánh nhân húy[sửa | sửa mã nguồn]

Thánh nhân húy là tránh dùng tên của các bậc thánh nhân đời trước. Ví dụ vào đời nhà Kim, người ta tránh dùng tên của Khổng Tử.

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng của húy kỵ lên tất cả các loại danh xưng, tên gọi như đã thấy trên cả theo hướng tích cực, tiêu cực hay trung tính. Nhưng một trong mặt ảnh hưởng xấu của nó trong xã hội phong kiến phương Đông, phải kể đến việc áp dụng các quy định luật lệ về kỵ húy trong thi cử nho học: nhiều sĩ tử đi thi nho học thời xưa, thường bị đánh trượt không phải là do không học tài, mà do phạm húy [11]. Đây cũng là một nguyên nhân làm nền giáo dục nho học suy thoái, không tìm được người nhân tài cho quốc gia[12]. Trần Tế Xương trong bài Thi hỏng có câu:

Rõ thực nôm hay mà chữ dốt,
Tám khoa chưa khỏi phạm trường qui.

Việc phạm quốc húy thường bị trừng phạt rất nặng. Kị húy được ghi vào luật pháp các triều đại phong kiến Trung Quốc với các hình phạt rất hà khắc đối với người phạm quốc hý, như Luật triều Đường quy định:"Trực tiếp nói tên hoàng đế là phạm đại tội bất kính, không xá miễn". Năm 1777, Vương Tích Hầu (王錫侯) đã phê phán Khang Hi tự điển trong tự điển của ông và viết tên Càn Long mà không dùng khuyết bút (bỏ nét) như luật. Hành động này dẫn tới việc ông bị tru di cửu tộc và tịch biên toàn bộ tài sản.[13] Trước đó năm 1757, một quan bố chánh người Chiết Giang đã nghỉ hưu tên là Bành Gia Bằng, để cho một thư sinh tên là Đoạn Xương Tự đăng một câu văn cảo, trong đó nói đến tên húy của vua Càn Long là "Hoằng Lịch" nhưng không bớt nét, do đó Bành Gia Bằng phải tự sát, Đoạn Xương Tự bị chém đầu.[13]

Việc kị húy bản thân cũng có mâu thuẫn: nếu không biết tên thật của vua chúa thì rất khó để kiêng, do vậy bằng cách này hay cách khác, tên húy của vua chúa sẽ được truyền xuống dân chúng một cách không chính thức. Vào năm 435 thời Bắc Ngụy, sứ giả Cao Câu Ly đã chính thức thỉnh cầu Bắc Ngụy gửi cho họ một văn bản có tên của hoàng đế để tránh phạm phải húy khi gửi văn từ giao thiệp. Bắc Ngụy Thái Vũ đế liền đồng ý.[14]

Do mỗi đời vua của mỗi triều đại đều có những quy định riêng về kiêng húy nên việc tìm hiểu về kị húy có thế giúp xác định được niên đại của các bia ký và văn bản đời trước.

Ngược lại với tập tục này, phải kể đến phong tục đặt tên thánh (hay tên cha mẹ đỡ đầu) cho con người khi mới chào đời, ở các nước phương Tây.

Ngày nay, những quy định về kiêng huý không còn hiệu lực nữa, vì nó là hình thức quá vô lý với đời sống ngôn ngữ và xã hội một thời, nhưng một số sách vở và trong xã hội do ảnh hưởng của lệ kiêng húy trước đây vẫn dùng chữ kiêng húy trong hành văn vì thói quen lâu ngày để lại.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Việt)

  • Ngô Đức Thọ, Bước đầu nghiên cứu chữ húy đời Trần, Viện Nghiên cứu Hán Nô, số 1 năm 1986.
  • Ngô Đức Thọ, Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại, Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, NXB Văn Hóa, 1997.
  • Phạm Văn Bân, Tị húy trong sinh hoạt của người Việt Nam.
  • Dương Phước Thu, Húy kỵ và Quốc húy thời Nguyễn, NXB Thuận Hóa.
  • Đỗ Đức Thọ, Chữ Nam viết kiêng húy và vấn niên đại của chuông Vân Bản, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thông báo Hán Nôm học 1996 (tr.376-383).

(tiếng Pháp)

  • Ngô Đức Thọ, Les caractères interdits au Vietnam à travers l'histoire, Emmanuel Poisson dịch và chú giải

tiếng Trung: {{{1}}}

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]