Hạ Mỗ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hạ Mỗ là một xã thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội, Việt Nam

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phía Đông giáp xã Hồng Hà, xã Liên Hồng
  • phía Tây giáp xã Thượng Mỗ
  • phía Nam giáp xã Tân Hội
  • phía Bắc giáp xã Trung Châu và Hồng Hà.

Dự án khu đô thị mới của thành phố Hà Nội thì Đường Quốc lộ Hoàng Quốc Việt sẽ kéo dài đến xã Hạ Mỗ.

Các đơn vị hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xã gồm 2 thôn là Hạ Mỗ và Trúng Đích.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Làng Hạ Mỗ có làng nghề truyền thống là nghề Ren. Nơi đây sinh ra danh nhân văn hoá Tô Hiến Thành. Xưa kể rằng Lý Nam Đế, sau khi đánh đuổi thứ sử nhà Lương, lên ngôi vua đổi tên nước thành Vạn Xuân, đóng đô ở Ô Diên tức xã Hạ Mỗ ngày nay[1]

Đất Ô Diên (xã Hạ Mỗ) vốn là một phần đất Chu Diên thuở trước, sau đó thuộc đất họ Lý, Lý Phật Tử đóng đô (557 - 571).Nay còn di tích đền thờ Bát Lang, tức Nhã Lang, con trai Lý Phật Tử, con rể Triệu Quang Phục. Nay là Đình Vạn Xuân, một ngôi đình lớn nhất nhì Bắc Bộ, được xếp hạng di tích quốc gia năm 1991. Dân làng có bài thơ rất hay về Đình:

Đình làng làm đủ trăm gian
To nhớn loại nhất nước Nam nào tày
Đất quy vờn ngọc đẹp thay
Trước cửa ao cá, giữa ngay cái gò
Quanh sân sáu cửa tò vò
Hai cột đồng trụ xây to tầy vừng
Sân rồng chất kiệu đã từng
Đôi tả hữu mạc song hành mười gian
Mái cong thoáng lá đại lan
Sân ngoài cỏ mượt, tán bàng sum xuê
Đại đình cao vút uy nghi
Dọc ngang mười nóc một ly chẳng dời
Đốc tiền cung điện sáng ngời
Lưỡng long chầu nguyệt y nơi cung đình
Cánh chuồn đốc hậu rành rành
Nội vương ngoại quốc" quy trình chẳng sai
Ban thờ lớp lớp trong ngoài
Bộ hạ võ lược, văn tài hai bên
Hậu cung cửa cấm bước lên
Ngước trông hoành tráng ở trên đỉnh đầu
Long, ly, quy, phượng cùng chầu
Hoành phi câu đối rực mầu vàng son
Đồ chấp sự rặt bằng đồng
Xà mâu, bát bửu, kiệu chồng mấy gian
Bao nhiêu cờ, lọng, quạt, tàn
Bấy nhiêu công sức dân làng từ xưa
Ngàn năm cho đến bây giờ
Đình Vạn Xuân vẫn y như buổi đầu

Ngoài ra làng Hạ Mỗ vẫn còn một di tích nữa về thành Ô Diên đó là miếu Hàm Rồng. Tương truyền rằng ngay sau khi hoàng tử Lý Bát Lang mất, vua Lý Phật Tử đã lệnh cho nhân dân Hạ Mỗ (bấy giờ là hương Ô Diên) lập miếu thờ trên phủ đệ cũ của hoàng tử[2], trong khu vực thành Ô Diên, người đời sau gọi là Quán Bét (đọc chệch tiếng bát tức Lý Bát Lang) hay miếu Hàm Rồng (chỗ 3 dòng sông: sông Hồng, sông Hátsông Nhuệ [3] gặp nhau) ở đầu nguồn Nhuệ Giang, nay sông Hồng đã lùi xa và khởi nguồn sông Nhuệ chỉ còn dấu tích của Đầm Bát Lang.

Sản vật và món ngon địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Ren (còn gọi là Gien vơ ni):

Đã từng có thời người dân Hạ mỗ đi khắp nước để dạy nghề. Tuy nhiên, do thị trường xuất khẩu bị bó hẹp nên nghề này đến nay đã bị mai một.

Rượu: Nghề làm rượu ở Hạ mỗ đã tồn tại từ bao đời nay và ngon có tiếng. Đây là loại rượu rất thơm, có độ cồn cao (tối thiểu 48% độ cồn) nhưng không bao giờ khiến người uống bị đau đầu. Chất lượng luôn ngon nhất vùng có lẽ cũng bởi bản chất thật thà của người dân ở đây.

Nem: Khác hoàn toàn với nem Phùng (một loại nem nổi tiếng khác cũng ở huyện Đan phượng) được làm từ bì heo, nem Hạ mỗ có thành phần chủ yếu là thịt nạc loại ngon nhất và nem thính nên ăn rất ngọt. Loại nem này chỉ xuất hiện trong các đám hiếu, hỉ trong làng.

Đậu phụ: Đậu phụ Hạ Mỗ ngon nổi tiếng, hàng ngày cung cấp một số lượng lớn cho thị trường Hà nội. Đặc điểm bìa đậu(dân địa phương gọi là khăn đậu)to, mềm nhưng không nát. Dù rán, nướng hay ăn ngay vẫn cảm thấy vị béo ngậy. Đây là bí quyết nhà nghề và do nguồn nước địa phương đã tạo nên chất lượng của sản phẩm.

Cháo xe (xoe): Món cháo làm bằng bột gạo, xoe lại thành miếng tròn, dài rồi nấu với thịt sườn loại ngon. Món này thường được nấu vào bữa cuối của đám cưới và chỉ để phục vụ những người trong gia đình và bạn thân chứ ít khi đãi khách.

Bột sắn dây: Hiện nay do hàng giả quá nhiều nên các gia đình làm sắn dây không còn mặn mà với nghề này nữa. Trong làng chỉ còn ít gia đình vẫn cố gắng giữ lấy nghề.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Giới thiệu Hà Nội
  2. ^ Cuốn thần phả do Hàn Lâm Viện Đông các học sĩ Nguyễn Bính soạn năm Hồng Phúc thứ nhất, đời vua Lê Anh Tông (Nhâm Thân 1572)
  3. ^ Xưa gọi là sông Tống Bình hay sông Từ Liêm

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]