Hạc cầm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tranh vẽ về một chiếc hạc cầm

Hạc cầm hay còn được gọi bằng nhiều tên khác như đàn Harp, đàn Harpe, đàn hạc là một nhạc cụ thuộc bộ dây có số dây rất lớn tương đương piano và từng thông dụng ở châu Phi, châu Âu, châu Mỹ và ở châu Á và là một trong những dụng cụ âm nhạc có nguồn gốc lâu đời nhất trên thế giới[1]. Đàn hạc trong một số nền văn hóa được xem là tương trưng cho âm nhạc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên thủy của hạc cầm được cho là bắt nguồn từ ý tưởng của cây cung. Trong thời cổ, chiếc hạc cầm được phản ánh trong các nền văn hóa, là loại nhạc cụ gắn liền với những câu chuyện thần tiên, thường thấy nhất là hình ảnh những thiên thần cầm đàn hạc và hát múa kết hợp với khung cảnh tráng lệ của cung điện, đền đài, nơi mà các vị vua chúa, giới quý tộc thời cổ đại thường tụ tập, vui chơi ca hát..

Những chiếc đàn hạc lâu đời nhất được tìm thấy đã được phát hiện trong đống đổ nát từ thời kỳ Sumer cổ đại ở miền nam Iraq. Hạc cầm được biết đến như một trong những loại nhạc cụ cổ nhất của loài người, nó có thể ra đời tại Ai Cập vào khoảng 6.000 năm trước Công nguyên[2] hay ít nhất là 4000 năm trong thời kỳ BabilonLưỡng Hà. Hạc cầm đã xuất hiện trong những bức chạm trổ trên nấm mồ của Pharaoh Ramses III (1198-1166 Trước Công nguyên) và những đồ tế lễ từ năm 2900 trước công nguyên của nước Iraq. Từ khi loại nhạc cụ này phát triển ở Các quốc gia Hồi giáo, nó lan dần từ phương bắc của châu Phi tới Tây Ban Nha trong thời kỳ thế kỷ thứ 8, rồi qua hầu hết các nước ở châu Âu.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Đàn hạc là đàn gảy. Đàn hạc thường xuất hiện trong dàn nhạc giao hưởng hoặc đệm cho hát trong nhạc thính phòng. Giá đàn hạc rất đắt. Để chế tác được một cây đàn hạc đòi hỏi rất nhiều công phu mới chế tác được. Theo Thần thoại Hy Lạp, đàn hạc được tạo ra khi dùng ruột bò tạo thành dây trên khung gỗ.

Hạc cầm có nhiều kiểu, nhiều cỡ và nặng nhẹ khác nhau, nhưng có 3 thể loại chính: loại hộp, loại uốn cong và loại dây. Hạc cầm cao từ 60 cm tới 1m80, có 22 tới 47 sợi dây đàn. Kiểu nhỏ thì bạn có thể đặt trên đùi trong khi chơi, còn kiểu lớn phải đặt dưới đất. Dây đờn của hạc cầm được làm riêng biệt bằng dây gân, kẽm, nylon hay trộn lẫn với nhau.

Tiếng Hạc cầm giống với tiếng guitar, nhưng âm sắc của giai điệu đa dạng và mềm mại hơn. Các nghệ sĩ thường kết hợp hạc cầm với sáo. Để học được, ngoài năng khiếu âm nhạc và lòng say mê, còn cần phải có người dài (thân cao), cánh tay dài, ngón tay khỏe, thịt tay chắc (dùng thịt đầu ngón tay để bấm, không phải dùng móng như guitar).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lucia Bova, L'arpa moderna. La scrittura e la notazione, lo strumento e il repertorio dal '500 alla contemporaneità, preface by Luis de Pablo, Suvini Zerboni, Milano, 2008. ISBN 978-88-900691-4-7
  • "The Anglo Saxon Harp", Spectrum, Vol. 71, No.2 (Apr., 1996), pp 290–320.
  • "The Origins of the Clairsach or Irish Harp", Musical Times, Vol. 53, No 828 (Feb 1912), pp 89–92.
  • Alasdair Ross discusses that all the Scottish harp figures were copied from foreign drawings and not from life, in "'Harps of Their Owne Sorte'? A Reassessment of Pictish Chordophone Depictions", Cambrian Medieval Celtic Studies 36, Winter 1998.
  • Snyder's Medieval Art, 2nd ed, p. 32. Luttikhuizen and Verkerk.
  • Courteau, Mona-Lynn. "Harp". In J. Shepherd, D. Horn, D. Laing, P. Oliver and P. Wicke (Eds.), The Continuum Encyclopedia of Popular Music of the World, Vol. 2, 2003, pp. 427–437.
  • Montagu, Jeremy (2002). “Harp”. Trong Alison Latham. The Oxford Companion to Music. London: Oxford University Press. tr. 564. ISBN 0198662122. OCLC 59376677. 
  • Rensch, Roslyn (2007/1989). Harps and Harpists, revised (2nd) edition. Đại học Indiana. ISBN 0-253-34903-6.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Bọt biển giống đàn hạc - VnExpress”. VnExpress - Tin nhanh Việt Nam. Truy cập 7 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ “Cánh hạc cô đơn Văn hóa”. Người Lao Động. Truy cập 7 tháng 6 năm 2014.