Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hải Lan Châu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hải Lan Châu
(海兰珠)
Thần phi (宸妃)
Harjol.jpg
Thông tin chung
Phối ngẫu Hoàng Thái Cực
Hậu duệ Bát tử (1637 – 1638) (chết non)
Tên đầy đủ Bác Nhĩ Tề Cát Đặc Cáp Nhật Châu Lạp
(博爾濟吉特·海蘭珠)
Thụy hiệu Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phi
(敏惠恭和元妃)
Hoàng tộc Bác Nhĩ Tề Cát Đặc (Khai sinh)
Ái Tân Giác La (hôn phối)
Thân phụ Trại Tang
Sinh 1609
Mất 1641 (31–32 tuổi)

Hải Lan Châu (chữ Hán: 海兰珠), (1609 – 1641), thụy hiệu: Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phi (敏惠恭和元妃) là phi tần của Thanh Thái tông, tức Hoàng Thái Cực nhà Thanh.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thần phi tên Bác Nhĩ Tề Cát Đặc Cáp Nhật Châu Lạp, hán danh là Hải Lan Châu (Harjol[1], 海兰珠) sinh ngày 11 tháng 11 năm 1609. Bà là con gái của Trung thân vương Trại Tang - một bối lặc của bộ tộc Khoa Nhĩ Thấm ở Mông Cổ và là hậu duệ đời thứ 18 của Cáp Tát Nhĩ, em trai Thành Cát Tư Hãn. Thần phi còn là cháu gái của Hiếu Đoan Văn hoàng hậu Triết Triết và là chị gái của Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu.

Thần phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Thiên Thông thứ tám (năm 1634), Hải Lan Châu nhập cung do Hiếu Đoan Văn hoàng hậu, Hiếu Trang Văn Hoàng Hậu đều sinh 3 người con gái, không sinh được con trai nối dõi có dòng máu Ái Tân Giác La và Bác Nhĩ Tề Cát Đặc.

Năm Sùng Đức thứ nhất (1636) thành lập nhà Thanh, Hoàng Thái Cực lập ra Tứ Phi, Đại Ngọc Nhi thành hôn trước chín năm, nhưng là người có vị trí thấp nhất trong Tứ Phi, Hải Lan Châu đến sau chín năm, người đến sau lại là người có vị trí cao nhất trong Tứ Phi. Bà được phong là Thần phi, ở cung Quan Thư [2], ngụ tại Đông Cung.

Với Hải Lan Châu, Hoàng Thái Cực có thể nói là rêu rao chỉ sợ thiên hạ không biết mình yêu nàng nhiều đến thế nào. Năm 1637, bà sinh hạ một hoàng tử nhưng đến năm 1638 thì chết yểu.

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Sùng Đức thứ sáu (1641), Hải Lan Châu qua đời ở tuổi 32 vì bệnh nặng sinh ra do nỗi đau mất con, được chôn tại Chiêu lăng ở Thẩm Dương. Sau khi chết bà được truy phong làm Mẫn Huệ Cung Hoà Nguyên phi.[3] Bà còn là phi tần có thụy hiệu dài nhất trong suốt lịch sử nhà Thanh.

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật Hải Lan Châu do Trương Mông đóng trong phim "Mỹ nhân vô lệ" và Hà Trại Phi đóng trong phim "Hiếu Trang Bí Sử".

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong tiếng Mãn Châu có nghĩa là "Ngọc Bích".
  2. ^ Hoàng Thái Cực đặt tên cho cung dựa theo những vần thơ tình kinh điển mà người Trung Quốc nào cũng biết:Quan quan thư cưu, tại hà chi châu… Kinh Thi
  3. ^ Chữ Nguyên nghĩa là "đầu tiên", có lẽ để nói rằng Hoàng Thái Cực chỉ coi Hải Lan Châu là người vợ đầu tiên.