Hải Ninh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hải Ninh từng là một tỉnh cũ ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Tỉnh Hải Ninh được thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 10 tháng 12 năm 1906 do tách toàn bộ phủ Hải Ninh (gồm ba châu Hà Cối, Móng Cái, Tiên Yên) của tỉnh Quảng Yên ra khỏi tỉnh này. Tỉnh lị: Móng Cái.

Ngày 14 tháng 12 năm 1912, tỉnh Hải Ninh bị xóa bỏ để thành lập Đạo Quan binh thứ nhất Hải Ninh, gồm ba châu. Đến năm 1919, một châu mới được thành lập, lấy tên là Bình Liêu, do tách hai tổng từ châu Tiên Yên. Sau này bỏ đạo Quan binh, tỉnh Hải Ninh được tái lập.

Hải Ninh phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Đôngbiển Đông, phía Nam giáp khu Hồng Quảng, phía Tây Nam giáp Bắc Giang, phía Tây Bắc giáp Lạng Sơn.

Ngày 7/6/1949, huyện Lộc Bình của tỉnh Hải Ninh nhập vào tỉnh Lạng Sơn.

Trong kháng chiến chống Pháp, Hải Ninh thuộc Liên khu Việt Bắc, thị xã Móng Cái bị giải thể. Năm 1950 tỉnh Hải Ninh có 7 huyện: Móng Cáy (tức Móng Cái), Hà Cối, Đầm Hà, Tiên Yên, Bình Liêu, Đình Lập (nay thuộc Lạng Sơn), Hải Chi. Thị xã Móng Cái được tái lập ngày 1/2/1955 và trở thành tỉnh lị.

Ngày 27/6/1951, nhập 2 huyện Hải Chi và Đình Lập thành 1 huyện mới lấy tên là Đình Lập.

Tháng 10 năm 1963, Hải Ninh được hợp nhất với khu Hồng Quảng thành tỉnh mới Quảng Ninh.

Liên kết ngoài [sửa]