Hải chiến vịnh Aboukir

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hải chiến sông Nil
Một phần của Chiến tranh Cách mạng Pháp
Aboukir.jpg
The Destruction of 'L'Orient' at the Battle of the Nile, George Arnald, 1827, Bảo tàng Hàng hải quốc gia Anh
.
Thời gian 1–3 tháng tám 1798
Địa điểm Vịnh Aboukir, Ai Cập
Kết quả Chiến thắng quyết định của Anh
Tham chiến
Vương quốc Anh (1707-1801) Vương quốc Anh Pháp Đệ nhất Cộng hòa
Chỉ huy
Vương quốc Anh (1707-1801) Sir Horatio Nelson Pháp François-Paul Brueys D'Aigalliers  
Lực lượng
13 Tàu chiến tuyến, 1 fourth ratesloop 13 Tàu chiến tuyến, 4 tàu frigate
Tổn thất
218 chết,
677 bị thương
2,000–5,000 thương vong,
3,000–3,900 bị bắt[Note A]
2 tàu chiến tuyến bị phá hủy,
9 tàu chiến tuyến bị bắt,
2 tàu frigate bị phá hủy
.

Trận sông Nile (còn được gọi là Trận vịnh Aboukir, trong tiếng PhápBataille d'Aboukir hoặc trong tiếng Ả Rập Ai Cập là معركة أبي قير البحرية) là một trận hải chiến lớn đã diễn giữa quân đội AnhPháp tại vịnh Aboukir bên Địa Trung Hải một bờ biển của Ai Cập vào ngày 1 đến 3 tháng 8 năm 1798.[1] Trận đánh là đỉnh cao của một Chiến dịch hải quân đã diễn ra trên Địa Trung Hải trong suốt ba tháng trước đó, một đoàn quân viễn chinh lớn của Pháp khởi hành từ Toulon để đến Alexandria, lực lượng viễn chinh do Napoleon Bonaparte chỉ huy đã bị đánh bại bởi lực lượng của Anh do Đô đốc Horatio Nelson chỉ huy.

Bonaparte đã tìm cách xâm lược Ai Cập, như là bước đầu tiên trong một chiến dịch chống lại Ấn Độ thuộc Anh có mục tiêu cuối cùng là đẩy Anh ra khỏi các cuộc chiến tranh cách mạng Pháp. Hạm đội Bonaparte vượt Địa Trung Hải, họ bị theo đuổi bởi Hải quân Anh dưới sự chỉ huy của Tử tước Horatio Nelson khởi hành từ Tagus, để nắm bắt được mục đích thám hiểm của Pháp và đánh bại họ. Sau hơn hai tháng, Nelson vẫn tiếp tục bám theo hạm đội Pháp, một số lần chỉ thiếu vài giờ là có thể đuổi bắt kịp. Bonaparte, đã biết được mình đang bị Nelson theo đuổi, do đó, bắt buộc giữ bí mật tuyệt đối về điểm đến của mình để có thể chụp được Malta và sau đó là đất Ai Cập mà không phải chạm trán với Hải quân Anh hùng mạnh.

Cùng với đội quân Pháp vào bờ, hạm đội neo ở vịnh Aboukir, cách 20 dặm (32 km) về phía bắc của Alexandria, với trình độ chỉ huy của mình, Phó Đô đốc François-Paul Brueys D'Aigalliers, tin tưởng thành vào việc thiết lập một vị trí phòng thủ bất chiến bại. Khi hạm đội của Nelson đã tới Ai Cập vào ngày 1 tháng và phát hiện ra phòng thủ Brueys, ông đã ra lệnh tấn công ngay lập tức, và chiến hạm của ngài tiến trên phòng tuyến Pháp. Khi đến gần, họ chia thành hai đơn vị, một trong số đó cắt ngang cắt ngang qua người đứng đầu tuyếnn và bờ neo, trong khi nhóm kia tiến ra hướng ra biển của Hạm đội Pháp. Bị kẹt giữa tuyến, các tàu hàng đầu của Pháp bị tấn công dữ dội trong một trận chiến kéo dài ba giờ, đạo quân chủ lực đã có thể và đẩy lùi được đợt tấn công đầu tiên của Anh. Khi quân tiếp viên Anh đến, một đợt tấn công lớn vào Trung quân Pháp xảy ra, vào lúc 22:00 giờ soái hạm Phương Đông (Oirent) bị phát nổ. Với việc Brueys tử trận trung quân cũng thất bại theo, bộ phận phía sau hạm đội Pháp đã cố gắng thoát ra khỏi vịnh, nhưng cuối cùng chỉ có 2 tàu chiến tuyến và 2 tàu frigate trốn thoát được từ tổng cộng 17 tàu ban đầu.

Trận chiến đảo ngược tình hình chiến lược ở Địa Trung Hải và cho phép Hải quân Hoàng gia nhận được một vị trí thống trị mà nó sẽ còn giữ cho đến khi chiến tranh kết thúc. Nó cũng khuyến khích các nước châu Âu khác chống lại Pháp, và là một yếu tố trong sự bùng nổ của cuộc chiến tranh với Liên minh thứ hai. Quân đội của Bonaparte đã bị mắc kẹt ở Ai Cập, và Hải quân Hoàng gia ngự trị ngoài khơi bờ biển Syria góp phần góp đáng kể trong việc đánh bại Pháp tại cuộc vây hãm Acre năm 1799, trước khi Bonaparte trở lại châu Âu. Nelson, người đã bị thương trong trận chiến, được tuyên bố như một người hùng trên khắp châu Âu và sau đó đã trở thành Nam tước Nelson. Thuyền trưởng của ông cũng được đánh giá cao, và sẽ đi vào để tạo thành nên hạt nhân của Nelsonic Band of Brothers. Trận chiến vẫn còn nỗi bật trong văn hóa phổ biến, có lẽ nổi tiếng nhất là bài thơ Casabianca của nữ thi sĩ Felicia Hemans năm 1826

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chú thích A: Các nguồn đưa ra thông tin khác nhau về thiệt hại của trận đánh: Roy và Lesley Adkins cho rằng Anh có 218 người bị chết và 677 người bị thườn, Pháp có 5,235 bị thiệt mạng hoặc mất tích và 3.305 bị bắt trong đó có khoảng 1.000 người bị thương.[2] Cuốn Dictionnaire des batailles navales franco-anglaises (Từ điển Hải chiến Pháp-Anh) của Jean-Claude Castex, xuất bản 2003, cho rằng Anh có 1000 người tử nạn hoặc 12% số quân nhân Anh tham gia và Pháp có 1700 người chết, 1500 người bị thương, 1000 người bị bắt hoặc 81% số quân Pháp đã tham gia trận đánh.[3] William Laird Clowes cho rằng 218 lính Anh bị chết và 678 người bị thương; Pháp có khoảng 2.000 tới 5.000 người tử nạn, trung bình có khoảng 3,500.[4] Juan Cole lại cho rằng 218 người Anh bị chết và Pháp có khoảng 1,700 chết trận, một ngàn người bị thương và 3,305 từ nhân, hầu hết những người này đều được trả về Alexandria.[5] Robert Gardiner cho rằng Anh có 218 người bị chết và 678 người bị thương, Pháp có khoảng 1,600 liệt sĩ và 1,500 bị thương.[6] William James gives a precise breakdown of British casualties that totals 218 killed and 678 wounded and also quotes estimates of French losses of 2,000 to 5,000, favouring the lower estimate.[7] John Keegan gives British losses as 208 killed and 677 wounded and French as several thousand dead and 1,000 wounded.[8] Steven Maffeo vaguely records 1,000 British and 3,000 French casualties.[9] Noel Mostert gives British losses of 218 killed and 678 wounded and quotes estimates of French losses between 2,000 and 5,000.[10] Peter Padfield gives British losses of 218 killed and 677 wounded and French as 1,700 killed and approximately 850 wounded.[11] Digby Smith lists British losses of 218 killed and 678 wounded and French as 2,000 killed, 1,100 wounded and 3,900 captured.[12] Oliver Warner gives figures of British losses of 218 killed and 677 wounded and 5,265 French killed or missing, with 3,105 taken prisoner. It should be noted that almost all of the French prisoners were returned to French-held territory in Egypt during the week following the battle.[13]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Adkins, Roy; Adkins, Lesley (2006). The War for All the Oceans. Abacus. ISBN 0-34911-916-8.
  • Baker, Margaret (1995). London Statues and Monuments. Shire Publications Ltd. ISBN 0-7478-0284-X.
  • Bradford, Ernle (1999 [1977]). Nelson: The Essential Hero. Wordsworth Military Library. ISBN 1-84022-202-6.
  • Castex, Jean-Claude (2003). Dictionnaire des batailles navales franco-anglaises. Les Presses de l'Université Laval. ISBN 2-7637-8061-X.
  • Chandler, David (1999 [1993]). Dictionary of the Napoleonic Wars. Wordsworth Military Library. ISBN 1-84022-203-4.
  • Clowes, William Laird (1997 [1900]). The Royal Navy, A History from the Earliest Times to 1900, Volume IV. Chatham Publishing. ISBN 1-86176-013-2.
  • Cole, Juan (2007). Napoleon's Egypt; Invading the Middle East. Palgrave Macmillan. ISBN 978-1-4039-6431-1.
  • Forester, C.S. (2001 [1929]). Nelson. Chatham Publishing. ISBN 1-86176-178-3.
  • Gardiner, Robert, ed (2001 [1996]). Nelson Against Napoleon. Caxton Editions. ISBN 0-86176-026-4.
  • Germani, Ian (January 2000). "Combat and Culture: Imagining the Battle of the Nile". The Northern Mariner X (1): 53–72.
  • Ingram, Edward (July 1984). "Illusions of Victory: The Nile, Copenhagen, and Trafalgar Revisited". Military Affairs 48 (3): 140–143.
  • James, William (2002 [1827]). The Naval History of Great Britain, Volume 2, 1797–1799. Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-906-9.
  • Jordan, Gerald; Rogers, Nicholas (July 1989). "Admirals as Heros: Patriotism and Liberty in Hanoverian England". The Journal of British Studies 28 (3): 201–224.
  • Keegan, John (2003). Intelligence in War: Knowledge of the Enemy from Napoleon to Al-Qaeda. Pimlico. ISBN 0-7126-6650-8.
  • Maffeo, Steven E. (2000). Most Secret and Confidential: Intelligence in the Age of Nelson. London: Chatham Publishing. ISBN 1-86176-152-X.
  • Mostert, Noel (2007). The Line upon a Wind: The Greatest War Fought at Sea Under Sail 1793–1815. Vintage Books. ISBN 978-0-7126-0927-2.
  • Padfield, Peter (2000 [1976]). Nelson's War. Wordsworth Military Library. ISBN 1-84022-225-5.
  • Rodger, N.A.M. (2004). The Command of the Ocean. Allan Lane. ISBN 0-7139-9411-8.
  • Rose, J. Holland (1924). "Napoleon and Sea Power". Cambridge Historical Journal 1 (2): 138–157.
  • Smith, Digby (1998). The Napoleonic Wars Data Book. Greenhill Books. ISBN 0-85367-276-9.
  • Warner, Oliver (1960). The Battle of the Nile. London: B. T. Batsford.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 31°20′B 30°07′Đ / 31,333°B 30,117°Đ / 31.333; 30.117