Quân chủng Hải quân Việt Nam
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
- Mục từ Hải quân Việt Nam dẫn tới bài này. Hãy xem Hải quân Việt Nam (định hướng).
Quân chủng Hải quân, Quân đội Nhân dân Việt Nam còn gọi là Hải quân Nhân dân Việt Nam là một quân chủng thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam có nhiệm vụ tổ chức, chỉ huy, quản lý, xây dựng quân đội bảo vệ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam. Cơ quan chỉ huy là Bộ Tư lệnh Hải quân. Hải quân Nhân dân Việt Nam có các binh chủng Hải quân đánh bộ, Tên lửa-Pháo bờ biển, Không quân Hải quân nhưng không tổ chức bộ tư lệnh riêng.
Hải quân Nhân dân Việt Nam có các cấp đơn vị: hải đoàn, hải đội tàu, binh đoàn Hải quân đánh bộ, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, các đơn vị bảo đảm phục vụ (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần...).
- Trụ sở Bộ Tư lệnh: Thành phố Hải Phòng
- Tư lệnh: Phó đô đốc Nguyễn Văn Hiến, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Chính ủy: Phó đô đốc Trần Thanh Huyền.
- Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng: Chuẩn đô đốc, Phạm Ngọc Minh.
- Phó Tư lệnh: Chuẩn đô đốc, Lê Văn Đạo;
- Phó chính ủy: Chuẩn đô đốc, Nguyễn Cộng Hòa
Mục lục |
[sửa] Các Cơ quan và Đơn vị trực thuộc
- Cục Chính trị
- Bảo tàng Hải quân. Địa chỉ qua khỏi Cầu Rào, thành phố Hải Phòng. Thành lập ngày 4 tháng 1 năm 1975.
- Bộ Tham mưu
- Cục Hậu cần
- Cục Kỹ thuật
- Viện Kỹ thuật Hải Quân
- Trụ sở chính: Hải Phòng
- Lữ đoàn 171.
- Lữ đoàn Công binh 131: Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, 2005.
- Công ty Tân Cảng Sài gòn [1].
- Công ty Hải Long (X46)
- Nhà máy quốc phòng X51
- Học viện Hải quân
- Trụ sở chính: Nha Trang
- Giám đốc: Chuẩn đô đốc, PGS, Tiến sĩ Phạm Hồng Thuận
- Trường Trung học Kỹ thuật Hải quân.
- Các trường THCN, nhà máy, xí nghiệp khác.
[sửa] Các vùng hải quân
Vùng Hải quân là tổ chức liên binh đoàn chiến dịch-chiến thuật của hải quân, phân chia theo lãnh thổ, gồm các binh đoàn, binh đội tàu mặt nước, không quân của hải quân, Hải quân đánh bộ, bộ đội phòng thủ đảo, pháo binh bờ biển và các đơn vị bảo đảm tác chiến (ra đa, thông tin, kỹ thuật, hậu cần...).
Ngày 26 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 141/QĐ-QP thành lập 5 vùng duyên hải thuộc Bộ Tư lệnh hải quân và quy đinh phạm vi quản lý của 5 vùng. Đến năm 1978 giải thể vùng 2 và đổi tên vùng duyên hải thành vùng hải quân.
- Vùng 1 (hoặc vùng I, vùng A): Vịnh Bắc Bộ. Thời kỳ 1975-78 vùng 1 quản lý vùng biển từ Móng Cái đến Ninh Bình (cửa sông Đáy). Tháng 10 năm 1978 một phần lực lượng của Vùng 2 giải thể được sáp nhập vào Vùng 1. Từ đây Vùng 1 được giao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ một vùng biển rộng từ cửa sông Bắc Luân đến mũi Độc (ở gần Đèo Ngang, vùng giáp giới hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình) bao gồm các đảo gần bờ, xa bờ và thềm lục địa thuộc Vịnh Bắc Bộ.
- Vùng 2 (hoặc vùng II, vùng B). Vùng II quản lý vùng biển từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên. Đến năm 1978 giải thể, nhập vào vùng 1 và vùng 3.
- Vùng 3 (hoặc vùng III, vùng C). Thời kỳ 1975-78 vùng 3 quản lý vùng biển từ Đà Nẵng đến mũi Kê Gà (Bình Thuận), có bờ biển dài khoảng 1.100 km. Sau khi vùng 2 giải thể, vùng 3 quản lý cả đoạn giữa miền Trung, từ mũi Độc trở vào đến Bình Thuận, gồm đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn... Trụ sở Bộ Chỉ huy: Đà Nẵng. Vùng III Duyên hải gồm 3 khu duyên hải: Nam Ngãi (khu 31), Bình Phú (khu 32), Khánh, Ninh, Bình (Khu 33), mỗi khu duyên hải tương đương cấp trung đoàn.
- Vùng 4 (hoặc vùng IV, vùng D): Vùng 4 quản lý Quần đảo Trường Sa và vùng biển phía nam miền Trung, từ Hàm Tân đến sông Soài Rạp.
- Vùng 5 (hoặc vùng V, vùng E): Vùng 5 quản lý vùng biển Nam biển Đông và vịnh Thái Lan, từ sông Soài Rạp đến Hà Tiên.
[sửa] Các cấp hàm
Trước năm 1981, quân hàm cấp tướng của quân chủng hải quân chưa có tên gọi riêng, vẫn mô phỏng theo cách gọi của Trung Quốc. Từ năm 1981, quân hàm các cấp tướng trong hải quân mới có tên gọi riêng, theo cách gọi của Liên Xô: Đô đốc (tương đương Thượng tướng), Phó Đô đốc (tương đương Trung tướng), Chuẩn Đô đốc (tương đương Thiếu tướng), được quy định lần đầu tiên trong Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam ban hành ngày 31 tháng 12 năm 1981. Về phù hiệu và cấp hiệu quân hàm xem bài Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Cho đến nay mới có một sĩ quan Hải quân lên tới cấp Đô đốc: cố Tư lệnh Hải quân Giáp Văn Cương (1921-1990). Ông được phong làm Đô đốc năm 1988. Theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (1999) thì Phó Đô đốc là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Tư lệnh Quân chủng Hải quân.
[sửa] Lịch sử
Hải quân Nhân dân Việt Nam lấy ngày 7 tháng 5 năm 1955, ngày thành lập Cục Phòng thủ bờ biển thuộc Bộ Quốc phòng làm ngày thành lập hải quân. Còn ngày truyền thống là ngày 5 tháng 8 năm 1964, ngày đánh trả thành công chiến dịch Mũi Tên Xuyên - cuộc tập kích đầu tiên bằng không quân của Mỹ vào miền Bắc Việt Nam[1][2].
Tuy nhiên quá trình phôi thai hình thành Hải quân Nhân dân Việt Nam đã có từ năm 1946. Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Bộ Tư lệnh Chiến khu miền Duyên hải tại Hải Phòng đã tổ chức Ủy ban Hải quân Việt Nam. Lực lượng Hải quân lúc này có gần 200 người, một tàu nhỏ mang tên Bạch Đằng và 3 ca nô làm nhiệm vụ tuần tiễu, bảo vệ cảng Hải Phòng và vùng ven biển lân cận. Tại Đà Nẵng, Việt Minh cũng tổ chức Thủy quân miền Nam Trung Bộ gồm gần 400 người.
Ngày 19 tháng 7 năm 1946, Quyền Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Huỳnh Thúc Kháng đã ký Quyết định thành lập Hải quân Việt Nam. Tiếp đó, ngày 10 tháng 9 năm đó, Chủ tịch Quân sự Ủy viên Hội Võ Nguyên Giáp ký nghị định đặt cơ quan chỉ huy hải quân là hải đoàn do một hải đoàn trưởng phụ trách. Tuy nhiên đến đầu năm 1947, xét thấy không thể duy trì lực lượng hải quân, Việt Minh đã tháo gỡ máy móc, vũ khí, thiết bị và đánh đắm tàu để không lọt vào tay quân Pháp.
Ngày 8 tháng 3 năm 1949, thành lập Ban nghiên cứu thủy quân thuộc Bộ tổng Tham mưu. Ban này vừa làm nhiệm vụ nghiên cứu vừa làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu. Khoảng 100 người tổ chức thành đội 71 được cử sang đảo Hải Nam (Trung Quốc) huấn luyện về thủy quân trong thời gian 6 tháng. Tuy nhiên ban bị giải thể năm 1951.
Ngày 24 tháng 8 năm 1954, thành lập hai thủy đội Sông Lô và Bạch Đằng.
Tháng 4 năm 1955, Bộ Quốc phòng thành lập Trường huấn luyện bờ biển và ngay tháng sau thành lập Cục Phòng thủ bờ biển, đánh dấu sự ra đời của Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Ngày 24 tháng 1 năm 1959, Cục Phòng thủ bờ biển chuyển đổi thành Cục Hải quân và đến ngày 3 tháng 1 năm 1964, Bộ Tư lệnh Hải quân được thành lập.
Ngày 18 tháng 5 năm 1959, thành lập Đoàn 135 (sau này đổi thành 140), đơn vị tàu tuần tiễu.
Ngày 13 tháng 9 năm 1975, tổ chức các đơn vị phòng thủ đảo.
Ngày 31 tháng 8 năm 1998, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam làm lễ ra mắt.
[sửa] Chỉ huy và Lãnh đạo qua các thời kỳ
- Cục trưởng kiêm Chính ủy Cục Phòng thủ bờ biển: Tạ Xuân Thu, Cục phó: Nguyễn Bá Phát, Tham mưu trưởng: Đoàn Bá Khánh
- Cục trưởng Cục Hải quân: Nguyễn Bá Phát
[sửa] Tư lệnh
- Tạ Xuân Thu (1964), Tư lệnh đầu tiên của Quân chủng Hải quân, Thiếu tướng (1961)
- Nguyễn Bá Phát (1964-1976), Thiếu tướng Hải quân (1974)
- Giáp Văn Cương (1977-1980), Thượng tướng (1974) (Đô đốc duy nhất của hải quân nhân dân Việt Nam)
- Đoàn Bá Khánh, (1981-1983), Thiếu tướng
- Giáp Văn Cương (1984-1990), Đô đốc Hải quân (1988)
- Hoàng Hữu Thái, (1990-1994), Phó Đô đốc Hải quân
- Mai Xuân Vĩnh, (1994-1999), Phó Đô đốc Hải quân
- Võ Nhân Huân, Quyền Tư lệnh (1999), Chuẩn Đô đốc Hải quân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII
- Đỗ Xuân Công (2000-2004), Phó Đô đốc Hải quân
- Nguyễn Văn Hiến (từ 2004), Phó Đô đốc Hải quân, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
[sửa] Chính ủy
- Tạ Xuân Thu (1965-1971), Thiếu tướng (1961).
- Hoàng Trà (1971-1974 và 1975-1979), Thiếu tướng Hải quân (1974).
- Nguyễn Văn Tình (đến tháng 1-2008), Phó Đô đốc Hải quân. Nghỉ hưu ngày 1/1/2008
- Trần Thanh Huyền (Từ 16-1-2008), Phó đô đốc Hải quân.
[sửa] Chú thích
- ^ VietNamNet, Ngày này năm xưa
- ^ Thanh Niên, Quân chủng Hải quân đánh thắng trận đầu: Cuộc giáng trả đanh thép 40 năm trước, 04/08/2004
[sửa] Liên kết ngoài
- Hải quân nhân dân Việt Nam Những ngày đầu xây dựng trên Báo Quân đội Nhân dân điện tử
- Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt Nam 1955-2005
|
|
||
|---|---|---|
|
Quân chủng: Quân chủng Hải Quân • Quân chủng Phòng không-Không quân • Bộ đội Biên phòng |
||

