Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Hải quân Trung Quốc, tên chính thức Trung Quốc Nhân dân Giải phóng quân Hải quân (中國人民解放軍海軍), là lực lượng hải quân của Quân Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc. Trước thập niên 1990, hải quân đóng vai trò thứ yếu so với lục quân Trung Quốc (TQ). Từ thập niên 1990 đến nay, hải quân TQ được nhanh chóng hiện đại hóa, và nay bao gồm thêm 35.000 Hải quân Biên phòng và 56.000 Thủy quân Lục chiến TQ, cùng 56.000 quân thuộc Lực lượng Hải quân Không chiến với hàng trăm chiến đấu cơ trên bờ và các trực thăng trên các chiến hạm.
Mục lục |
[sửa] Lịch sử
Năm 1949, Mao Trạch Đông tuyên bố "để chống bọn đế quốc xâm lược, ta cần có một hải quân hùng mạnh." Năm sau, vào tháng 3 1950, trường sĩ quan hải quân TQ được thành lập tại Đại Liên (大連) với đa số huấn luyện viên người Nga. Tháng 9 cùng năm, Hải quân TQ được chính thức thành lập, quân số khởi đầu chọn từ các lực lượng hải quân địa phương trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu tại Khương Yển (姜堰), nay đặt tại Thái Châu (泰州), thuộc tỉnh Giang Tô (江蘇). Lực lượng này thoạt đầu chỉ là một nhóm chiến hạm ô hợp tich thu của Trung Hoa Quốc Dân đảng, và hai năm sau tăng cường thêm lực lượng không chiến.
Đến năm 1954 số lượng cố vấn hải quân Liên Xô tăng lên đến 2.500 người – tỉ lệ một cố vấn cho 30 quân nhân hải quân TQ – và Liên Xô bắt đầu viện trợ các loại chiến hạm tối tân hơn. Với viện trợ của Liên Xô, Hải Quân TQ tổ chức lại năm 1954-1955 thành ba hạm đội: Hạm đội Bắc Hải, hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải. Sau đó các chức vụ đô đốc, đề đốc, và các cấp bậc sĩ quan Hải quân khác được thành lập từ đội ngũ sĩ quan lục quân. Để xây các chiến hạm, thoạt đầu cần người người Liên Xô giúp đỡ, nhưng sau đó Hải quân TQ bắt chước chế tạo theo mô hình các chiến hạm Liên Xô, và sau cùng có thể tự thiết kế và chế tạo chiến hạm các loại. Trong thời điểm này quan hệ hai bên mật thiết đến độ có cả bàn tính dự định tổ chức một hạm đội chung cho cả hai hải quân Nga-Trung.
Trải qua những biến động chính trị của thập niên 1950 và 1960, Hải quân trung quốc không bị ảnh hưởng gì. Dưới sự lãnh đạo của Bộ trưởng Quốc phòng Lâm Bưu (林彪, Lin Biao), hải quân TQ vẫn được đầu tư khá nhiều trong những năm nghèo đói sau Đại nhảy vọt. Trong Cách mạng Văn hóa, tuy một số chính ủy, tư lệnh đầu não bị truất quyền, và một số lực lượng hải quân được sử dụng để đàn áp cuộc bạo loạn tại Vũ Hán (武漢, Wuhan) tháng 7 năm 1967, nhưng nói chung Hải quân TQ ít bị dính líu vào các biến động đang xảy ra trên toàn Trung quốc vào thời điểm đó Với bề mặt tuyên bố trung thành với Mao, và chính ủy đảng vẫn được đưa vào mỗi chiến hạm để nắm chặc các hạm trưởng, Hải quân TQ vẫn tiếp tục công việc đóng thêm chiến hạm, huấn luyện thủy thủ và tu bổ các hạm đội.
Đến thập niên 1970, khi ngân sách quốc phòng dành cho hải quân lên đến 20 phần trăm toàn ngân sách quốc gia, thì Hải quân TQ phát triển vượt bực. Lực lượng tàu ngầm (không nguyên tử) tăng vọt từ 35 đến 100 chiếc, các phóng pháo hạm có khả năng bắn tên lửa tăng từ 20 lên đến 200 chiếc, và các chiến hạm loại lớn và các chiến hạm yểm trợ loại tuần dương cũng được chế tạo thêm. Hải quân TQ cũng đóng thêm tàu ngầm loại xung kích và loại chiến lược phóng tên lửa với máy chính chạy bằng năng lượng hạt nhân. Các tàu ngầm loại này không cần ngưng để lấy nhiên liệu, nên có tầm hoạt động rất xa.
Đến thập niên 1980, dưới thời Đô đốc Hải Quân Lưu Hoa Thanh (劉華清, Liu Huaqing) Hải quân TQ trở thành một lực lượng Hải quân đáng kể trong khu vực, có khả năng tuần tiễu khá xa lãnh hải. Tuy nhiên, mức độ phát triển có phần chậm hơn thập niên trước đó. Các nỗ lực hiện đại hóa chú trọng nhiều hơn vào trình độ kỹ thuật và học vấn của thủy thủ. Đồng thời, sách lược hành quân biên phòng và cơ cấu lực lượng được chỉnh đốn và đặt trọng tâm vào các hoạt động tuần dương (blue-water operations) hơn tuần duyên (coastal defense), ngoài ra Hải quân TQ còn đẩy mạnh các chương trình huấn luyện hành quân hỗn hợp giữa các lực lượng tàu ngầm, chiến hạm, hải quân không chiến, và các lực lượng duyên phòng. Bằng chứng cho khả năng hoạt động tầm xa của Hải quân TQ đã tăng trưởng: (a) cuộc trục vớt một tên lửa liên lục địa (ICBM) năm 1980 do một hạm đội gồm 20 chiến hạm hành quân đến Tây Thái Bình Dương, (b)một số hành quân hải hành dài ngày trên biển Đông (Nam Hải) năm 1984 và 1985, (c) hai chiến hạm TQ thăm giao hữu ba nước thuộc vùng Ấn Độ Dương năm 1985. Ngoài việc đẩy mạnh phát triển tầm hoạt động, Hải quân TQ cũng phát triển thêm về khả năng phóng tên lửa từ các chiến hạm và tàu ngầm. Năm 1982 Hải quân TQ bắn thử thành công một phi đạn bắn từ tàu ngầm. Hải quân TQ cũng chế tạo thành công một số tên lửa loại hạm-đối-hạm, hạm-đối-đất, đất-đối-hạm, và không-đối-hạm.
[sửa] Hiện tại
[sửa] Kế hoạch và ưu tiên chiến lược
Trong vài năm gần đây, Hải quân TQ trở nên quan trọng vì có sự thay đổi trong tầm nhìn chiến lược của Trung Quốc. Các mối đe dọa chiến lược bao gồm giao tranh với Hoa Kỳ, hoặc tranh chấp với Nhật hay Đài Loan, hoặc giao tranh tại Trường Sa. Trong sách lược hiện đại hóa hải quân nói chung, một trong những ưu tiên dài hạn là cải tổ và phát huy Hải quân TQ thành một Hải quân Viễn dương (远洋海军, blue-water navy).
Cũng có nhiều nguồn tin cho rằng Hải quân TQ dự định chế tạo hoặc mua một hàng không mẫu hạm, nhưng ý tưởng này có vẻ không được ưu tiên so với những nhu cầu hiện đại hóa khác. Hầu hết các nhà nghiên cứu tin rằng nếu TQ không hiện đại hóa cả lực lượng hải quân, thì hàng không mẫu hạm không những có cũng vô dụng, mà còn tốn hao lây vào những chi phí khác của quân đội. Nhận đình này có vẻ được sự đồng tình ủng hộ của các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị. Trung Quốc hiện đã mua được hàng không mẫu hạm Varyag hạng Kuznetsov, hiện đang cập bến tại Đại Liên, và họ có thể tân trang và đưa vào hoạt động, hoặc dùng để huấn luyện phi công cất cánh và đáp trên biển.
Tháng sáu năm 2005, có nguồn tin trên mạng loan báo Hải quân TQ dự định sẽ chế tạo một hàng không mẫu hạm trị giá 30 tỉ nhân dân tệ (362 triệu US$), với trọng tải 78.000 tấn và do hảng đóng tàu Giang Nam đóng. Nguồn tin này bị Bộ Quốc phòng TQ phủ nhận.
[sửa] Thay đổi lớn trong thế kỷ 21
Hải quân TQ đã bước vọt trong những năm gần đây khi họ quyết định mua loại khu trục hạm hạng Sovremenny và mua tàu ngầm hạng Kilo của Nga. Hai khu trục hạm hạng Sovremenny đầu tiên được trang bị tên lửa chống chiến hạm loại SS-N-22, còn gọi là Tên lửa chống chiến hạm vận tốc vượt âm 3M-80E. Theo các nhà nghiên cứu quốc phòng Tây phương, loại tên lửa này có khả năng tiêu diệt hàng không mẫu hạm. Hai khu-trục hạm kế tiếp sau đó được trang bị loại SS-N-26 Yakhont tối tân hơn, và nhiều chiến hạm trang bị loại tên lửa này đang được xây thêm.
Hạm đội tàu ngầm của Hải quân TQ cũng có những bước tiến lớn. Các tàu ngầm hạng Kilo có khả năng hoạt động rất im lặng, và được trang bị hai loại vũ khí mới nhất: tên lửa chống chiến hạm loại Klub, còn gọi là Tên lửa chống chiến hạm vận tốc dưới âm 3M-54E1, và tên lửa thủy lôi loại VA-111 Shkval có tốc độ trên 320 km /giờ và tầm hoạt động 7,5 km. Tất cả các tàu ngầm của Hải quân TQ, kể cả loại Kilo, đều được trang bị loại máy hoạt động không cần không khí, có nằm chờ rất lâu dưới biển để đột kích kẻ thù.
Kỹ thuật đóng tàu của hải quân TQ nay cũng tiến rất xa qua sự giúp đỡ của Nga, và các khu trục hạm mới nhất của TQ sử dụng trang bị nội hóa có chất lượng không kém so với tiêu chuẩn phương Tây, với ra đa loại AEGIS và sườn tàu thiết kế kiểu chống ra đa.
[sửa] Các hoạt động
Tháng 9 năm 2005 vừa qua phát ngôn viên quân sự Bộ Quốc phòng Nhật thông báo một số chiến hạm Hải quân TQ đã có mặt tại khu dầu khí Chunxiao (người Nhật gọi Shirakaba), nơi từng xảy ra tranh chấp gay gắt giữa TQ và Nhật.. Đoàn chiến hạm nầy gồm có một chiến hạm yểm trợ chiến thuật trọng tải 23,000 tấn, một khu trục hạm phóng phi đạn hạng Sovremenny trọng tải 7,940 tấn, một chiến hạm yểm trợ phóng phi đạn trọng tải 6,000 tấn, hai tuần dương hạm hạng Giang Hồ I (江 湖, Jianghu I-class) trọng tải 1,702 tấn. Từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 11 năm 2007, Hải quân TQ tập trận tại khu vực Quần đảo Hoàng Sa. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chính thức phản đối hoạt động này, do phía Trung Quốc đã không tôn trọng bộ Qui tắc ứng xử Biển Đông, và khu vực này thuộc lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
[sửa] Họat động trong biển Đông
Hải quân Trung Quốc với các trang thiết bị cực kỳ hiện đại, vũ lực hùng hậu[cần dẫn nguồn] như bắn vào ngư dân Việt Nam làm vỡ tàu, chết người hoặc bắn và bắt cóc các tàu cá của ngư dân gặp nạn hoặc tránh bão trên vùng biển mà ngư dân Việt Nam cho là còn thuộc chủ quyền Việt Nam làm chết người và bắt giam đòi tiền chuộc một cách có hệ thống[1], đồng thời cướp đoạt toàn bộ phương tiện đánh bắt cá và sản phẩm đánh bắt của ngư dân Việt Nam, rồi đưa ra tòa phạt vi cảnh[2].
[sửa] Các hạm đội
Hải quân Trung Quốc có ba hạm đội:
- Hạm đội Bắc Hải (北海舰隊)
- Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Thanh Đảo (青島) thuộc tỉnh Sơn Đông (山東). Hạm đội này có khu vực trách nhiệm vùng vịnh Bột Hải (渤 海) và Hoàng Hải (黄海). Soái hạm của hạm đội nầy là khu trục hạm Cáp Nhĩ Tân (哈爾濱), thuộc loại trang bị tên lửa có điều khiển (phương Tây gọi là guided-missile destroyer, viết tắt DDG).
- Hạm đội Đông Hải (東海舰隊)
- Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Ninh Ba (寧波), thuộc tỉnh Chiết Giang (浙江). Hạm đội nầy có khu vực trách nhiệm vùng Đông Hải. Soái hạm là tuần dương hạm J302 Sùng Minh Đảo (崇明島, Chongmingdao).
- Hạm đội Nam Hải (南海舰隊)
- Bộ Tư lệnh Hạm đội đặt tại Trạm Giang (湛江) thuộc tỉnh Quảng Đông (廣東). Hạm đội nầy có trách nhiệm kiểm soát vùng Nam Hải, chia thành sáu khu tác chiến, phòng thủ: Trạm Giang (Zhanjiang), Bắc Hải (Beihai), Hoàng Bố (Huangpu), Sán Đầu (Shantou), Hải Khẩu (Haikou) và Tây Sa (Xisha).
Các căn cứ chính: Trạm Giang (Zhanjiang) - tọa độ: 21º10'N 110º20'E; Quảng Châu (Guangzhou) - 23º08'N 113º20'E; Du Lâm (Yulin) - 22º37'N 110º08'E, Tam Á (Sanya) - Hải Nam; Bắc Hải (Beihai)- 21º29'N 109º10'E; Sán Đầu (Shantou) - 23º23'N 116º39'E; Hải Khẩu (Haikou) - 20º05'N 110º25'E; Hoàng Bố (Huangpu) - 23º08'N 113º31'E; Hongkong.
Các Phó Tư lệnh, gồm: Xiao Xinnian (Tân Niên); Xue Tianpei (Thiên Bối); Den Minglin (Minh Lâm); Zhang Zhicheng (Chí Thành); Han Linzhi (Lâm Chí). Chính ủy: Xu Yitian (Nghị Thiên). Nguyên Tư lệnh Hạm đội Wu Shengli (Vũ Thắng Lợi) đã được bổ nhiệm làm Tư lệnh Hải quân TQ, từ tháng 8 năm 2006.
Lực lượng chủ yếu, gồm:
- - Soái hạm
- tuần dương hạm AOR/AK 953 Nam Xương (南昌, Nanchang) trọng tải 23.000 tấn.
- - Đơn vị 91526, gồm
+ Các khu trục hạm: 161 Trường Sa (Changsha) - loại 051, lớp Lữ Đại (Luda); 163 Nam Xương (Nanchang) - loại 051D, lớp Lữ Đại; 164 Quế Lâm (Guilin) - loại 051D, lớp Lữ Đại; 166 Chu Hải (Zhuhai) - loại 051, lớp Lữ Đại-II; 167 Thâm Quyến (Shenzen) - loại 051B, lớp Lữ Hải (Luhai);...
+ Các hộ tống hạm: 558 Tư Cống (Zigong) - loại 053H, lớp Giang Hồ-I (Jianghu-I); 564 Nghi Xương (Yichang) - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II);...
- - Đơn vị tàu ngầm 32 xung kích (căn cứ Du Lâm), gồm
- 06 tàu lớp Minh ES5F (Ming) (số hiệu: 305, 306, 307, 308, 309, 310); 10 tàu lớp Romeo - Pr033; trên 04 tàu lớp Tống (Song) loại 039G hoặc 039G1 thay thế cho các tàu lớp Romeo); 01 tàu lớp Kilo;...
- - Đơn vị tàu ngầm số 1
- Trang bị loại 092 và loại 094 SSBN;...
- - Đơn vị 91458, căn cứ Du Lâm
- Hộ tống hạm 552 Yibin - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II);...
- - Các khu trục hạm, hộ tống hạm khác - chưa rõ thuộc đơn vị nào
+ Khu trục hạm: 139 Ninh Ba (Ningbo) - loại 956M, lớp Sovremenny; 162 Nam Ninh (Nanning) - loại 051GII, lớp Lữ Đại; 165 Trạm Giang (Zhanjiang) - loại 051G, lớp Lữ Đại-II; 168 Quảng Châu (Guangzhou) - loại 052B, lớp Quảng Châu (Guangzhou); 169 Vũ Hán (Wuhan) - loại 052B lớp Quảng Châu; 170 Lan Châu (Lanzhou) - loại 052C, lớp Lữ Dương-II (Luyang-II); 171 Hải Khẩu (Haikou) - loại 052C, lớp Luyang-II;...
+ Hộ tống hạm: 509 Trường Đức (Changde) - loại 053H, lớp Giang Hồ-I (Jianghu-I); 551 Mao Minh (Maoming) - loại 053H, lớp Jianghu- I; 553 Shaoguan - loại 053H, lớp Jianghu-I; 554 Ân Thuận (Anshun) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 555 Chiêu Đồng (Zhaotong) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 557 Kế Thủ (Jishou) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 559 Bắc Hải (Beihai) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 560 Đông Quan (Dongguan) - loại 053H, lớp Jianghu I; 561 Sán Đầu (Shantou) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 562 Giang Môn (Jiangmen) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 563 Phật Sơn (Foshan) - loại 053H, lớp Jianghu-I; 564 Yichang; 565 Du Lâm (Yulin) - loại 053H3, lớp Giang Vệ-II (Jiangwei-II); 566 Vũ Tây (Yuxi) - loại 053H3, lớp Jiangwei-II; 567 Hương Phiên (Xiangfan) - loại 053H3, lớp Jiangwei-II;...
- - Tàu đổ bộ
- 10 tàu LST - loại 072II lớp Yuting; 07 tàu LST - loại 072 lớp Yukan; 04 tàu LSMs lớp Yudao;...
- - Tàu vận tải, quân y
- 04 tàu vận tải, tiếp liệu lớp Hùng Sa (Qiongsha), 01 tàu cứu thương: AO 885, 886 - Qiando Hu, AOR 887 - Weishan Hu, 973,...
- - Các đơn vị không quân thuộc Hạm đội Nam Hải
- các căn cứ: Foluo, Quế Bình (Guiping), Hải Khẩu (Haikou), Linh Linh (Lingling), Linh Thủy (Lingshui), Jialaishi, Tam Á (Sanya).
+ Trung đoàn 8 - Sư đoàn 3 (căn cứ Trạm Giang): trang bị loại H-6D, H-6U, J-10, JH-7, J-11, Su-27/30;
+ Sư đoàn 8 (căn cứ Hải Khẩu): Trung đoàn 22 (căn cứ Hải Khẩu) - trang bị loại J-7; trung đoàn 24 (căn cứ Gia Lại Thức (Jialaishi)) - trang bị loại J-7II;...
+ Sư đoàn 9 (căn cứ Linh Thủy (Lingshui)): trung đoàn 25 - trang bị loại J-8B (J-8II), J-8D (J-8IV); trung đoàn 27 (căn cứ Lạc Đông (Ledong))- trang bị loại JH-7A;...
+ Trung đoàn 5 - sư đoàn 2 (căn cứ Lôi Dương (Leiyang)): trang bị loại HZ-5;...
+ Trung đoàn máy bay vận tải (căn cứ Hải Khẩu);
+ Các đơn vị trực thăng Z-8, Z-9 tại Hải Khẩu.
- - Các đơn vị lính thủy
- Lữ đoàn 1; lữ đoàn 164. Mỗi lữ gồm: 03 trung đoàn bộ binh cơ giới, 01 trung đoàn pháo, 01 trung đoàn tăng - thiết giáp đổ bộ, và các đơn vị đặc biệt, công binh, phòng hóa, thông tin,...
- - 01 tiểu đoàn tên lửa đối hải
- - 01 trung đoàn phòng không
- - 01 lữ radar
Hạm đội Nam Hải là lực lượng trực tiếp giao tranh với Hải quân Việt Nam trong những cuộc tranh chấp lãnh hải vào các thập niên 1970 và 1980.
[sửa] Khu trục hạm
- Khu trục hạm Loại 07 hạng Yên Sơn (鞍山) – 04 chiếc (đã ngưng hoạt động).
- Khu trục hạm Loại 051 hạng Lữ Đại (旅大) – 16 chiếc.
- Khu trục hạm Loại 052 hạng Lữ Hộ (旅 沪) – 02 chiếc.
- Khu trục hạm Loại 051B hạng Lữ Hải (旅海) – 01 chiếc.
- Khu trục hạm Loại 052B hạng Quảng Châu – 02 chiếc.
- Khu trục hạm Loại 052C hạng Lan Châu – 02 chiếc.
- Khu trục hạm Loại 051C – 1 chiếc đã hoạt động, còn 01 đang đóng.
- Khu trục hạm hạng Sovremenny (Loại 956) – 02 chiếc: 136 Hàn Châu (Hangzhou); 137 Phúc Châu (Fuzhou).
- Khu trục hạm hạng Sovremenny (Loại 956EM) – 02 chiếc: 138 Thái Châu (Taizhou); 139 Ninh Ba (Ningbo).
[sửa] Tuần dương hạm
- hạng Zuhai – 01 chiếc (đã ngưng hoạt động).
- hạng Tế Nam – 15 chiếc (đã ngưng hoạt động).
- Loại 01 Hạng Thành Đô (Chengdu) – 04 chiếc (đã ngưng hoạt động).
- Loại 053H/H1 Hạng Giang Hồ I/II (江湖, Jianghu I / Jianghu II) – 21 chiếc.
- Loại 053HT-H Hạng Giang Hồ IV (Jianghu-IV]] – 01 chiếc.
- Loại 053H2 Hạng Giang Hồ III (Jianghu-III) – 03 chiếc.
- Loại 053H1G Hạng Giang Hồ V (Jianghu-V ) – 06 chiếc.
- Loại 053H2G Hạng Giang Vệ (江卫, Jiangwei) – 04 chiếc.
- Loại 053H3 Hạng Giang Vệ II (Jiangwei II) – 10 chiếc.
- Loại 053K Hạng Giang Đông (Jiangdong) – 02 chiếc (01 chiếc đã ngưng hoạt động).
- Loại 054 Hạng Mã Yên Sơn (馬鞍山, Ma'anshan) – 02 chiếc và 02 chiếc đang đóng.
- Loại 065 Hạng Giang Nam (Jiangnan) – 05 chiếc (đã ngưng hoạt động).
[sửa] Tuần duyên
- Loại 021 Hoàng Phong (Huangfeng) – 65 chiếc.
- Loại 343M Hậu Tân (Houxin) – 14 chiếc.
- Loại 520T Hậu Giang (Houjian) – 04 chiếc.
[sửa] Tàu ngầm
- SSBN (Ballistic Missile Nuclear Submarine)
- SSB (Ballistic Missile Submarine)
- Loại 033G - Vũ Hán (Wuhan) Golf-class – 01 chiếc (số hiệu: 351).
- SSN (Nuclear Attack Submarine)
- Loại 091 - Lớp Hán Han-class – 05 chiếc (số hiệu: 402,...).
- Loại 093 - Lớp Thượng Shang-class – 02 chiếc.
- SSK (Diesel-Electric Attack Submarine)
- Loại 039 - Lớp Tống Song-class – 14 chiếc, gồm: 01 tàu loại 039 số hiệu 320 (dừng hoạt động năm 1998); 03 tàu loại 039G (314, 321 và 322); 10 tàu loại 039G1 (315, 316, 318, 323, 324, 325, 327,…).
- Lớp Kilo Kilo-class – 12 chiếc, gồm: 02 tàu loại 877EKM (số hiệu: 364, 365); 02 tàu loại 636 (số hiệu: 366, 367) ; 08 tàu loại 636M – (số hiệu: 368, 369, 370, 371, 372, 373, 374, 375).
- Loại 041 - Lớp Nguyên Yuan-class – 02 chiếc (số hiệu: 330,...).
- SS (Attack Submarine)
- Loại 033 - Lớp Romeo Romeo-class – 06 chiếc.
- Loại 035G - Lớp Minh Ming-class – 17 chiếc.
- SSG (Guided Missile Submarine) – phát triển từ loại 033 - 01 chiếc.
- DSRV (Salvage Submarine) – 01 chiếc.
Trong nhiều tài liệu, tư liệu về Hải quân TQ trên phương tiện truyền thông, việc bố trí và số lượng các tàu ngầm của Hạm đội Đông Hải và Hạm đội Nam Hải hoàn toàn không thể hiện.
[sửa] Tàu đổ bộ
- LST
- Loại 072 - Lớp Vũ Khang (Yukan) – 07 chiếc.
- Loại 072-II - Lớp Vũ Đình (Yuting) – 11 chiếc.
- Loại 072-III - Lớp Vũ Đình (Yuting) – 08 chiếc.
- Lớp Sơn (Shan) LST-1 – 03 chiếc.
- LSM
- Loại 073-II - Lớp Vũ Đảo (Yudao) – 01 chiếc.
- Loại 073-III - Lớp Vũ Đăng (Yudeng) – 01 chiếc.
- APA (attack transport)
- Lớp Hùng Sa (Qiongsha) – 04 chiếc.
- Lớp Hùng Sa (Qiongsha AH) – 02 chiếc.
[sửa] Xem thêm
[sửa] Liên kết ngoài
- Video:Hải quân TQ tập trận 2005
- PLAN – Chinese Defence Today
- Chinese Military Aviation
- PLA Daily – Jiefangjun Bao
- People's Liberation Army Navy
[sửa] Chú thích
- ^ "Chinese warships cruise near gas field claimed by Japan." World Tribune.com, 15 tháng 9 năm 2005. East West Services, Inc.

