Hải quân Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hải lực Việt Nam Cộng hòa
Tổ quốc - Đại dương.gif
Huy hiệu.
Hoạt động 1955–1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
Phân loại Thủy quân
Khẩu hiệu Tổ quốc - Đại dương
Colours Vàng, đỏ, lam
Tham chiến Mùa hè đỏ lửa
Hải chiến Hoàng Sa
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Chung Tấn Cang

Lâm Ngươn Tánh
Hồ Văn Kỳ Thoại
Hoàng Cơ Minh

Hải lực Việt Nam Cộng hòa, hoặc Hải quân Việt Nam Cộng hòa (tiếng Anh: Republic of Vietnam Navy, RVN) là lực lượng thủy quân trực thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa, hoạt động trên cả vùng sông nước và lãnh hải Việt Nam Cộng hòa. Trước và trong Chiến tranh Việt Nam, Hải quân Việt Nam Cộng hòa là lực lượng thủy quân mạnh nhất Đông Nam Á và có lúc được xếp hạng 9 thế giới. Ngày 30/4/1975, cùng với sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn và Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Hải quân Việt Nam Cộng hòa chính thức giải thể.

Lực lượng hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

QLVNCH Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Binh chủng
Lục quân
Hải quân
Không quân
Dấu hiệu/Cấp bậc
Quân hàm
Phù hiệu các đơn vị
Hiệu kỳ các đơn vị
Lịch sử
Tiến trình phát triển
Các đại đơn vị
Các tướng lãnh

Trước khi triệt thoái khỏi Việt Nam theo Hiệp định Geneve 1954, quân đội Pháp đã để lại cho quân đội Quốc gia Việt Nam một số chiến hạmgiang đỉnh. Sau đó, cộng thêm với những giang đĩnh của các đoàn tuần giang bán chính quy sáp nhập vào, lực lượng thủy quân Quốc gia Việt Nam gồm có những đơn vị sau:

  • 3 hộ tống hạm (patrol craft PC)
  • 2 hải vận hạm (landing ship medium LSM)
  • 1 tàu thủy đạo (batiment hydrographe)
  • 3 trục lôi hạm (dragueur, yard mine sweeper YMS)
  • 2 trợ chiến hạm (landing ship support large LSSL)
  • 5 giang pháo hạm (landing ship infantery large LSIL)
  • 4 giang vận hạm (landing craft utility LCU)
  • 2 tuần duyên hạm (garde côtière GC)
  • 70 quân vận đĩnh (landing craft mechanized LCM). Trong số này có 2 tiền phong đĩnh (LCM monitor), 4 soái đĩnh (LCM de Commandement), 53 quân vận đĩnh bọc thép (LCM blinde) và 11 quân vận đĩnh loại nhẹ (LCM leger).
  • 95 tiểu đĩnh gọi chung là vơ-đét (vedette), trong đó có 17 chiếc loại ứng chiến (vedette d'interception), 1 vơ-đét canh phòng (vedette de surveillance), 6 chiếc loại tuần cảng Y (yard). Ngoài ra là các Tiểu Giáp Đĩnh: 36 chiếc loại STCAN, 12 chiếc loại FOM dài 8 mét và 23 chiếc loại FOM dài 11 mét.
  • 100 tiểu vận đĩnh LCVP (landing craft vehicle personnel), tức là loại tàu nhỏ cỡ như vơ-đét chở được 6 người, trong đó có 81 loại bình thường và 19 loại nhẹ.
  • 15 sà lan trong đó một sà lan máy, 1 sà lan chở nước và 13 sà lan thường.
  • 3 tàu dòng (remorqueur)

Ngoài ra, phần lớn các chiến hạm đã cũ và có một vài chiếc không còn dùng được.

Những chỉ huy đầu tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Các sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa tại Quân cảng Cam Ranh ngày 1 tháng Giêng năm 1971.

Trong những năm đầu mới thành lập, các sĩ quan hải quân người Việt chỉ mới tốt nghiệp từ quân trường. Vì cấp bậc còn quá thấp, họ không đủ thâm niên để nắm giữ bất cứ một chức vụ quan trọng nào. Ngay cả chức vụ Trưởng ban Hải quân kiêm Phụ tá Hải quân Việt Nam cạnh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam, đáng lẽ phải là sĩ quan Hải quân Việt Nam, cũng do giới chức ở ngoài nắm giữ. Tính đến năm 1955, nếu không kể đến Hạm đội Pháp tại Viễn Đông, Đại tá Récher là sĩ quan Hải quân cao cấp nhất của Hải quân Pháp tại Việt Nam. Vì thế, ông đảm nhiệm cả hai chức vụ Phụ tá Hải quân cho Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam và quyền Chỉ huy trưởng Hải quân Quốc gia Việt Nam.

Cho đến cuối năm 1954, khi Hải quân Pháp bắt đầu chuyển giao quyền chỉ huy các đơn vị thủy quân cho Việt Nam, quân số Hải quân Quốc gia Việt Nam vẫn còn rất ít. Về cấp sĩ quan, chỉ có một Đại úy Lê Quang Mỹ, tất cả sĩ quan Khóa 1, 2, 3 đều là trung úy, Khóa 4 và 5 là thiếu úy. Ngoài ra, còn thêm các sĩ quan hải quân đầu tiên tốt nghiệp Trường Hải quân Brest (École Navale de Brest) hồi hương khoảng cuối mùa hè 1955.

Do nhu cầu điều động thủy quân trong các cuộc hành quân, ngày 1 tháng 7 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Thiếu tướng Trần Văn Đôn, Phụ tá Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam, kiêm nhiệm chức vụ Trưởng ban Hải quân thay thế Đại tá Récher. Tuy nhiên, việc chuyển quyền chỉ có tính cách chính trị vì toàn bộ sĩ quan của Ban Hải quân dưới quyền tướng Đôn đều là các sĩ quan Hải quân Pháp. Cũng vì lý do này mà Chiến dịch Hoàng Diệu đáng lẽ được tiến hành từ tháng 7 năm 1955, nhưng mãi tới ngày 21 tháng 9 năm 1955 mới khởi sự được.

Khi đó chỉ mới có Hải đoàn Xung phong số 21 được đặt dưới sự điều động của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việt Nam, do Thiếu tá Lê Quang Mỹ làm Hải đoàn trưởng. Các hải đoàn khác tuy đã do sĩ quan Việt Nam làm chỉ huy trưởng, nhưng về hệ thống vẫn còn trực thuộc Bộ Chỉ huy Giang lực (COFFLUSIC) của Pháp. Vì vậy, trong thời gian diễn ra chiến dịch, các hải đoàn Việt Nam tham chiến được đặt dưới quyền chỉ huy tạm thời của Thiếu tá Lê Quang Mỹ. Vào ngày 20 tháng 8 năm 1955, bằng một nghị định chính thức, Thủ tướng Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Thiếu tá Lê Quang Mỹ vào chức vụ Trưởng ban Hải quân, Phụ tá Hải quân cạnh Tổng tham mưu trưởng Quân đội Quốc gia Việt Nam, thay tướng Đôn để chỉ huy hải quân và đoàn thủy quân lục chiến. Vì lẽ này, ông được xem là Chỉ huy trưởng đầu tiên của Hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Danh sách các tư lệnh qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Họ tên Thời gian tại chức Cấp bậc tại nhiệm Ghi chú
Lê Quang Mỹ
1955-1957
Thiếu tá (1954), Trung tá (1955), Đại tá (1956) Chỉ huy trưởng Hải quân đầu tiên. Sử dụng chức danh Phụ tá Hải quân cho Tổng tham mưu trưởng
Trần Văn Chơn
1957-1959
Trung tá
Hồ Tấn Quyền
1959-1963
Đại tá Đổi sang chức danh Tư lệnh Hải quân. Bị ám sát ngày 1 tháng 11 năm 1963.
Chung Tấn Cang
1963-1965
Đại tá (1963), Phó đề đốc (1964)
Trần Văn Phấn
1965-1966
Đại tá
Cao Văn Viên
1966
Trung tướng kiêm nhiệm trong 1 thời gian ngắn
Trần Văn Chơn
1966-1974
Đại tá (1966), Phó đề đốc (1967), Đề đốc (1971)
Lâm Ngươn Tánh
1974-1975
Đề đốc
Chung Tấn Cang
1975
Phó đô đốc Tư lệnh cuối cùng. Nhậm chức ngày 24 tháng 3, đào nhiệm ngày 29 tháng 4 năm 1975.

Phát triển lực lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệu kỳ...
... và quân kỳ của lực lượng Hải lực Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 7 tháng 11 năm 1955, Pháp chuyển giao Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang lại cho Hải quân Việt Nam Cộng hòa. Khi đó, Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang huấn luyện các khóa sĩ quan sau đây:

  • Khóa 6 Sĩ quan Hải quân với tổng số 21 sinh viên sĩ quan, gồm 16 thuộc ngành Chỉ huy và 5 ngành Cơ khí. Nhập trường ngày 21 tháng 4 năm 1955, thời gian thụ huấn 11 tháng. Mãn khóa ngày 8 tháng 3 năm 1956.
  • Khóa 7 Sĩ quan Hải quân bắt đầu tuyển mộ vào cuối năm 1955. Khóa này được khai giảng tại Nha Trang vào đầu năm 1956. Học trình kể cả thực tập ngoài đơn vị, được nâng lên hai năm với đầy đủ các môn học văn hóa, kiến thức và chuyên nghiệp cho hai ngành chỉ huy và cơ khí.

Kể từ đó, mỗi năm Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang đào tạo khoảng 1.200 nhân sự các cấp.

Ngày 7 tháng 12, để bành trướng các hoạt động ở sông rạch, mỗi hải đoàn được trang bị 6 LCM, 4 LCVP và 6 hô bo (hors bord) có vận tốc cao. Hải quân tiếp nhận hai trợ chiến hạm (landing ship support large LSSL): HQ.225 và HQ.226.

Về quân số, vào tháng 7 năm 1955, Hải quân Việt Nam Cộng hòa có 3.858 người, kể cả 1.291 thủy quân lục chiến. Cũng trong năm này, Hải quân thành lập các lực lượng lớn và tất cả Bộ Chỉ huy đều đặt tại Sài Gòn.

Hải lực, gồm có:

  • 3 hộ tống hạm loại PC (patrol craft hay submarine chaser): Chi Lăng HQ.01, Vạn Kiếp HQ.02, Đống Đa HQ.03
  • 3 trục lôi hạm loại YMS: Hàm Tử HQ.111, Chương Dương HQ.112, Bạch Đằng HQ.113
  • 2 trợ chiến hạm loại LSSL: HQ.225 Nỏ Thần và HQ.226 Linh Kiếm
  • 4 hải vận hạm loại LSM (landing ship medium): Hát Giang HQ.400, Hàn Giang HQ.401, Lam Giang HQ.402, Ninh Giang HQ.403
  • 10 tuần duyên đĩnh loại WBP (một loại Coast Guart Patrol Cutter)

Giang lực, gồm có:

  • 5 hải đoàn, mỗi hải đoàn được trang bị tối thiểu 5 quân vận đĩnh (landing craft mechanized LCM), 4 tiểu vận đĩnh (landing craft, vehicle and personnel LCVP), 5 hô-bo có vận tốc cao
  • 4 giang pháo hạm loại LSIL (landing ship, infantry, large)
  • 5 giang vận hạm loại LCU (landing craft utility)
  • 4 chiếc YTL (yard tug, light hay harbor craft)

Hậu cứ các hải đoàn được đặt tại Cần Thơ, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Long XuyênCát Lái.

Các đơn vị bờ gồm có:

  • Bốn duyên khu tại Phú Quốc, Nha Trang, Vũng TàuĐà Nẵng
  • Trung tâm Huấn luyện Hải quân Nha Trang
  • Hải quân Công xưởng
  • Trung tâm Tiếp liệu
  • Các Thủy xưởng Cần Thơ, Đà Nẵng
  • Thủy quân lục chiến: Kể từ ngày 21 tháng 12, Tư lệnh Hải quân Việt Nam Cộng hòa Lê Quang Mỹ công bố Thủy quân lục chiến Việt Nam hình thành và bắt đầu hoạt động như là một đại đơn vị của Hải quân.
  • Bộ Tư lệnh Hải Quân được đặt ở Trại Bạch Đằng sau khi Pháp bàn giao căn cứ Caserne Francis Garnier ở bờ sông Sài Gòn.
  • Về quân y, Y sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước đảm nhiệm chức vụ Y sĩ trưởng Hải quân. Bộ Chỉ huy Thủy quân lục chiến cùng đóng chung ở Trại Bạch Đằng. Y sĩ Thiếu tá Phạm Tấn Tước cũng phụ trách luôn phần quân y cho Thủy quân lục chiến.

Các chiến dịch và trận đánh tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách các loại chiến hạm của Hải quân Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn tàu chiến của Hải quân Việt Nam Cộng hòa được Mỹ viện trợ bằng cách chuyển giao một số tàu chiến của Hải quân Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa, chỉ một số nhỏ ghe tuần tiễu là do Hải quân Pháp để lại.

Đề đốc Trần Văn Chơn cùng đô đốc Hoa Kỳ Thomas H. Moorer và các thuỷ thủ Việt Nam Cộng hòa-Hình chụp tháng 9/1969
  • Ghe Nautilus
  • Duyên tốc đĩnh PCF (Swift)
  • Khinh tốc đĩnh PTF
  • PTF loại cũ
  • PTF Na Uy (Nasty)
  • PTF Osprey

Sau biến cố 1975, một số chiến hạm đã rời Việt Nam đến Phi luật Tân. Tên của các hạm nầy được ghi lại bằng chữ nghiêng.

Chữ viết tắt dùng trong phần danh sách các hạm

  • TT: Trọng tải
  • KT: dài × rộng × mớm nước
  • VT: Vận tốc
  • TD: Thủy thủ đoàn
  • VK: Vũ khí

Khu trục hạm[sửa | sửa mã nguồn]

TT 1590 tấn tiêu chuẩn KT 93.26 x 11.22 x 4.00
VT 19 knots TD 150 người
VK 2/76 mm AA - 6 ASW TT
Range 11 500 miles / 11 knots Dầu 300 tấn
Máy dầu cặn Fairbanks Morse; 2 chân vịt; 6 000 ngựa

Tuần dương hạm[sửa | sửa mã nguồn]

TT 1766 tấn tiêu chuẩn KT 94.50 x 12.52 x 3.70
VT 17 knots TD 160 người
VK 1/12.7 mm AA - 6 ASW TT
Range 18 000 miles / 15 knots Dầu 400 tấn
Máy dầu cặn; 2 chân vịt; 6 000 ngựa

Hộ tống hạm[sửa | sửa mã nguồn]

TT 640 tấn tiêu chuẩn KT 56.24 x 10 x 2.75
VT 14/15 knots TD 99 người
VK 1/76 mm AA 2/40 mm, 8/20 mm
Máy dầu cặn General Motors 12-278A; 2 chân vịt; 2000 ngựa
TT 600 tấn tiêu chuẩn KT 56.24 x 10 x 2.75
VT 14/15 knots TD 99 người
VK 1/76 mm AA 2/40 mm, 2/20 mm
Máy dầu cặn General Motors 12-567A; 2 chân vịt; 1800 ngựa

Trục lôi hạm (minesweeper)[sửa | sửa mã nguồn]

TT: 370 tấn tiêu chuẩn KT: 44 x 7.23 x 2.55 (m)
VT: 14 knots TD: 45 người
VK: 2/20 mm
Range: 2500 miles / 12 knots Dầu: 40 tấn
Máy: dầu cặn General Motors; 2 chân vịt; 600 ngựa

Tuần duyên hạm[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ thành lập Lực lượng đặc nhiệm Tuần Thám 212, tháng 9 năm 1969.
TT 100 tấn KT 31.00 x 6.40 x 1.83
VT 17 knots TD 2+25 người
VK 1/40 mm 2/20 mm mortar 81 mm
Máy 2 dầu cặn G M / Mercedes Benz; 2 chân vịt; 1900 ngựa

Tuần duyên đỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

TT 61 tấn KT 25.00 x 5.19 x 1.75
VT 17 knots TD 8/10 người
VK 1/12.7 mm mortar 81 mm
Máy 2 dầu cặn G M / Mercedes Benz; 2 chân vịt; 1900 ngựa
TT 300/450 tấn KT 54.76 x 7.01 x 5.59
VT 20.2 knots TD 65 người
VK 1/76 mm 1/40 mm 5/20 mm
Máy 2 dầu cặn General Motors 16-278A; 2 chân vịt; 2 x 2880 ngựa

Giang pháo hạm[sửa | sửa mã nguồn]

Trợ chiến hạm[sửa | sửa mã nguồn]

TT 250 tấn KT 48.80 x 7.10 x 1.75
VT 14 knots TD 5+50 người
VK 1/40 mm 2/20 mm mortar 81 mm
Range 5000 miles / 12 knots
Máy 2 dầu cặn; 2 chân vịt; 1600 ngựa

Hải vận hạm[sửa | sửa mã nguồn]

(HQ-400 và HQ-401 được chuyển lại thành tàu bệnh viện vào năm 1966)
TT 520/743/1045 tấn KT 63.40 x 11.90 x 4.17
VT 13.2 knots TD 60 người
VK 1/40 mm 4/20 mm
Range 4900 miles / 12 knots
Máy 2 dầu Fairbanks Morse; 2 chân vịt; 2 x 1440 ngựa

Dương vận hạm[sửa | sửa mã nguồn]

TT nhẹ 1625/nặng 3640 tấn KT 100 x 15.25 x 4.52
VT 12 knots TD 110 người
VK 8/40 mm
Máy 2 dầu General Motors 12-567; 2 chân vịt;
  • 27 LCU (HQ-533 đến 599) trước là LSU-1502,1594,1476,1480...
TT 180 tấn KT 35.50 x 10.36 x 1.85
VT 10 knots TD 5+50 người
VK 2/20 mm
Máy 3 dầu cặn; 675 ngựa

Tuần giang đỉnh (river patrol boat)[sửa | sửa mã nguồn]

  • 107 PCF/Swift duyên tốc đỉnh
TT 16 tấn KT 15.60 x 4.12 x 1.50
VT 25 knots TD 1+7 người
VK 3/12.7 mm mortar 81 mm
Máy Gray 12 V-721dầu; 2 chân vịt; 960 ngựa
  • 293 PBR duyên tốc đỉnh
TT 18 tấn KT 9.45 x 3.20 x 0.35
VT 20/22 knots TD 1+4 người
VK 3/12.7 mm mortar 81 mm
Máy GM dầu; 2 jets; 2 x 220 ngựa
  • 84 ASPB tiểu vận đỉnh
TT 29 tấn KT 15.27 x 4.64 x 1.14
VT 14 knots TD 6 người
VK 1/20 mm 2/7.6 mm mortar 81 mm
Máy Detroit Mk12 V-71 dầu; 2 chân vịt; 850 ngựa

Trợ chiến hạm (logistic support)[sửa | sửa mã nguồn]

TT nhẹ 1625/nặng 4080 tấn KT 100 x 15.25 x 4.30
VT 10 knots
VK 40 mm - 2 trực thăng UH-1
Máy dầu cặn General Motors; 2 chân vịt; 1700 ngựa
TT 3700 tấn tiêu chuẩn KT 99.85 x 15.25 x 4.36
VT 10 knots
Máy dầu cặn; 2 chân vịt; 1800 ngựa
  • RVNS ? (HQ-470), trước là l'Aulne, YOG-80, sà lan chở dầu
  • RVNS ? (HQ-471), trước là YOG-33, sà lan chở dầu
  • RVNS ? (HQ-472), trước là YOG-67, sà lan chở dầu
  • RVNS ? (HQ-473), trước là YOG-71, sà lan chở dầu
  • RVNS ? (HQ-474), trước là YOG-131, sà lan chở dầu
  • RVNS ? (HQ-475), trước là YOG-56, sà lan chở dầu

Bảng tham chiếu danh từ tàu chiến Hải quân Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Hải quân VNCH Hải quân Hoa Kỳ Viết tắt
Khu trục hạm Destroyer Escort and Radar Picket DER
Tuần dương hạm White High Endurance Cutter WHEC
Hộ tống hạm Patrol Craft Escort PCE
Giang pháo hạm Landing Ship Infantry Light LSIL
Trợ chiến hạm Landing Ship Support Large LSSL
Tuần duyên hạm Patrol Gunboat Motor PGM
Dương vận hạm Landing Ship Tank LST
Yểm trợ hạm Auxiliary General Purpose AGP
Cơ xưởng hạm Landing Craft Repair Ship ARL ?
Hải vận hạm Landing Ship Medium LSM
Bệnh viện hạm Landing Ship Medium Hospital LSMH
Hỏa vận hạm Yard Oiler Gunship YOG
Thực vận hạm Refrigerated Covered Lighter YFR ?
Duyên vận hạm Utility Boat 100 Feet UB 100 ft
Giang vận hạm Landing Craft Utility LCU
Giang vận hạm Harbor Utility Craft YFU ?
Trục vớt hạm Salvage Light Lift Craft YLLC ?
Kiểm báo hạm Lights Ship WLV ?
Tuần duyên đĩnh Patrol Boat WPB ?
Duyên tốc đĩnh Patrol Craft Fast PCF
Duyên kích đĩnh Coastal Raider/Ferro Cement CR/FC

Các tàu của COAST GUARD Mỹ đều mang chữ W ở đầu để dể phân biệt (WHEC, WBP, WLV etc..)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ một sáng tác của nhạc sĩ Văn Cao

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]