Hậu Đường Minh Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hậu Đường Minh Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Hoàng đế Hậu Đường
Trị vì 926 - 933
Tiền nhiệm Hậu Đường Trang Tông
Kế nhiệm Hậu Đường Mẫn Đế
Thông tin chung
Tên húy Lý Tự Nguyên
Lý Đản[1]
Niên hiệu Thiên Thành: 4/926-2/930
Trường Hưng: 2/930-933
Thụy hiệu Thánh đức Hòa vũ Khâm Hiếu hoàng đế
Miếu hiệu Minh Tông
Triều đại Nhà Hậu Đường
Thân phụ Cha đẻ: Lý Điện[2]
Cha nuôi: Lý Khắc Dụng
Sinh 867
Mất 933
An táng Huy lăng

Hậu Đường Minh Tông (867-933), tên thật là Lý Tự Nguyên, trị vì từ năm 926 tới năm 933. Trong thời gian trị vì ông sử dụng 2 niên hiệu là: Thiên Thành (天成) 926-930, Trường Hưng (長興) 930-933. Ông là vị hoàng đế thứ 2 của nhà Hậu Đường.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lý Tự Nguyên nguyên là người Sa Đà, còn có tên là Mạc Cát Liệt (邈佶烈). Ông là con nuôi của tiết độ sứ Hà Đông thời nhà ĐườngLý Khắc Dụng. Cha đẻ là Lý Điện (李电)[2].

Năm 926, Ngụy bác quân Hoàng Phủ Huy nổi loạn tại Nghiệp (nay là huyện Lâm Chương, địa cấp thị Hàm Đan, tỉnh Hà Bắc). Hậu Đường Trang Tông cử ông đem quân dẹp loạn. Khi đến Nghiệp thì đại quân nổi loạn, ủng hộ Tự Nguyên làm vua. Tự Nguyên chưa biết làm thế nào thì được con rể là Thạch Kính Đường khuyến khích, do đó quyết tâm làm phản. Ông đem quân về Khai Phong và tấn công kinh đô Lạc Dương. Nhân cơ hội tướng chỉ huy cấm quân là Quách Trọng Khiêm, nguyên xuất thân từ một linh nhân[3] làm loạn giết chết Hậu Đường Trang Tông, ông đã đem quân nhập thành. Quần thần ủng hộ làm giám quốc. Nhân cơ hội đó ông giết hết các linh nhân cùng con của Trang Tông. Tháng 4 năm 926 ông lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Thiên Thành. Tháng 1 năm 927 đổi tên thành Đản (亶).

Minh Tông cùng Hậu Chu Thế Tông Sài Vinh có thể được coi là các minh quân trong thời Ngũ đại. Sau khi lên ngôi, ông đã cho sửa đổi các công việc triều chính, vốn đã trì trệ và hủ bại trong thời Trang Tông, xóa bỏ một số cơ quan hữu danh vô thực, giết các hoạn quan, tu sửa các công trình thủy lợi, quan tâm tới nỗi thống khổ của trăm họ. Vì thế, Hậu Đường lại được cường thịnh với nhiều năm được mùa. Quân đội Hậu Đường đã vài lần đánh bại ý đồ xâm lăng của người Khiết Đan.

Năm 933, ông ốm nặng nên không tiếp kiến quần thần. Con trai thứ hai là Tần vương Lý Tùng Vinh đem quân vào cung. Xu mật sử Chu Hoằng Chiêu, Phùng Uân (冯赟) lấy cớ thảo nghịch, đem quân chống lại. Biết được tin tức, Tự Nguyên quá đau lòng mà chết. Ông dược táng tại Huy lăng, miếu hiệu Minh Tông, thụy hiệu là Thánh đức Hòa vũ Khâm Hiếu hoàng đế.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoàng hậu:
  • Phi tần
    • Vương thục phi, nuôi Hứa vương Lý Tùng Ích
    • Cát chiêu dung, phong Chu quốc phu nhân
    • Lưu chiêu viên, phong Triệu quốc phu nhân
    • Tôn chiêu viên, phong Sở quốc phu nhân
    • Trương ngự chánh, phong Tào quốc phu nhân
    • Quách tư bảo, phong Ngụy quốc phu nhân
    • Vu tư tán, phong Trịnh quốc phu nhân
    • Vương thượng phục, phong Vệ quốc phu nhân
    • Thôi tư ký, phong Sái quốc phu nhân
    • Địch tư thiện, phong Đằng quốc phu nhân
    • Ngô tư uấn, phong Cử quốc phu nhân
    • Cao tiệp dư, phong Bột Hải quận phu nhân
    • Thẩm mĩ nhân, phong Thái Nguyên quận phu nhân
    • Chu thuận ngự, phong Ngô quận phu nhân
    • Liêu tư sức, phong Dĩnh Xuyên quận phu nhân
    • Lưu tư y, phong Bành Thành quận phu nhân
    • Mạnh tư dược, phong Hàm Dương quận phu nhân
    • Trương sơ bề, phong Thanh Hà quận phu nhân
    • Vương tư phục, phong Thái Nguyên quận phu nhân
    • Phó trất bề, phong Dĩnh Xuyên quận phu nhân
    • Trương tri khách, ban hiệu thượng thư
    • Giang thị, truy phong Tể Dương quận phu nhân
    • Lý nội nhân, phong Lũng Tây huyện quân
    • Thôi nội nhân, phong Thanh Hà huyện quân
    • Lý nội nhân, phong Thành Kỷ huyện quân
    • Điền nội nhân, phong Hàm Dương huyện quân
    • Bạch nội nhân, phong Nam Dương huyện quân (năm 933)

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Trai[sửa | sửa mã nguồn]

Con nuôi[sửa | sửa mã nguồn]

Con gái[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vĩnh Ninh công chúa, con gái thứ ba, mẹ là Tào hoàng hậu, sau phong Tấn quốc trưởng công chúa, lấy Hậu Tấn Cao Tổ Thạch Kính Đường.
  • Hưng Bình công chúa, con gái thứ 13, lấy Triệu Duyên Thọ, phong tháng 4 năm Thiên Thành thứ 3 (928), đến tháng 9 năm Trường Hưng thứ 4 (933) cải phong Tề quốc công chúa, tới tháng 2 năm Thanh Thái thứ 3 (936) tiến phong Yên quốc trưởng công chúa.
  • Thọ An công chúa, con gái thứ 14, phong tháng 6 năm Trường Hưng thứ 4.
  • Vĩnh Lạc công chúa, con gái thứ 15, phong tháng 6 năm Trường Hưng thứ 4.
  • Vĩnh An công chúa, là vợ kế của Triệu Duyên Thọ.

Con rể[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đổi tên tháng 1 năm 927.
  2. ^ a ă Tân Ngũ Đại sử viết là Lý Nghê (李霓).
  3. ^ Các ca kỹ được Trang Tông tin dùng, rất có quyền thế.
Hậu Đường Minh Tông
Sinh:   năm 926 Mất:   năm 933
Tước hiệu
Tiền vị:
Hậu Đường Trang Tông
Hoàng đế Trung Hoa (Hoa Bắc)
926-933
Kế vị
Hậu Đường Mẫn Đế
Hoàng đế Hậu Đường
926-933