Hậu Chu Thế Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hậu Chu Thế Tông
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Emperor Shizong of Later Zhou Guo Rong.jpg
Vua nhà Hậu Chu
Trị vì Tháng giêng năm 954tháng 6 năm 959
Tiền nhiệm Hậu Chu Thái Tổ
Kế nhiệm Hậu Chu Cung Đế
Thông tin chung
Hậu duệ
Tên thật Sài Vinh
Quách Vinh
Niên hiệu Hiển Đức: Tháng giêng năm 954tháng 6 năm 959
Thụy hiệu Duệ vũ Hiếu văn Hoàng đế
Miếu hiệu Thế Tông
Triều đại Nhà Hậu Chu
Sinh 921
Mất 959
Trung Quốc

Hậu Chu Thế Tông (chữ Hán: 後周世宗, 921 – 959), tên thật là Sài Vinh (柴榮) và sau đó đổi thành Quách Vinh (郭榮). Ông là Hoàng đế thứ hai của nhà Hậu Chu, trị vì từ tháng giêng năm 954 tới tháng 6 năm 959.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Sài Vinh là người Hình Châu, Nghiêu Sơn, Sài Gia Trang (nay là huyện Long Nghiêu, thành phố Hình Đài, tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc).

Sài Vinh là con trai Sài Thủ Lễ, anh vợ Quách Uy (tức Hậu Chu Thái Tổ). Quách Uy không có con trai, nhận ông làm con và đổi họ tên ông thành Quách Vinh.

Cha nuôi Quách Vinh thành lập nhà Hậu Chu năm 951. Ông được phong Tiết độ sứ Thiền Châu, sau phong Thái Nguyên Quận Hầu. Năm 952 ông được phong Tấn Vương. Tháng giêng năm 954, Hậu Chu Thái Tổ giao cho ông cai quản quân đội. Cùng tháng, Quách Uy mất vì bệnh tật.

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Quách Vinh trở thành Hoàng đế năm 954 sau khi cha nuôi ông qua đời. Giống như cha mình, ông được coi là vị Hoàng đế có năng lực. Ông tiếp tục công việc cải cách của cha mình như chiêu tập dân vô gia cư khai khẩn đất hoang, giảm thuế má, v.v để khôi phục kinh tế. Năm 955, ông cho phá bỏ chùa chiền, lấy đồng đúc tiền, gọi là Chu Nguyên thông bảo. Cùng với những việc này, ông còn lo chấn chỉnh quân đội, như sai bộ binh soạn binh pháp (chế chỉ binh pháp), thành lập thủy quân, xác định chiến lược cơ bản là “tiên Nam hậu Bắc” trong ý định thống nhất Trung Quốc.

Chu Thế Tông đã bắt đầu gây được một số áp lực lên nước Bắc Hán cát cứ ở Thái Nguyên cũng như cả Liêu ở phía bắc, mặc dù chưa đạt được mục tiêu đáng kể từ những áp lực này. Phía nam, ông thu được nhiều thành công hơn với một số chiến thắng trước Nam Đường với 3 lần mở chiến dịch tấn công nước lớn nhất trong "Thập quốc" này. Ông còn tấn công nước Hậu Thục, tạo nền tảng cho sự thống nhất cuối cùng dưới thời đại nhà Tống.

Ông mất ở độ tuổi 38, vào tháng 6 năm 959 vì bệnh tật khi đang ở trên chiến trường đánh Liêu thắng lợi. Người con trai mới 7 tuổi của ông là Sài Tông Huấn lên kế nghiệp cha mình. Điều này cuối cùng đã dẫn tới sự tiêu vong của nhà Hậu Chu và sự ra đời của nhà Tống. Ông được chôn cất tại Khánh Lăng.

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiển Đức (显德) 1/ 9546/ 959

Con trai[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Việt Vương Sài Tông Nghị (柴宗誼)
  2. Chết sớm không rõ
  3. Chết sớm không rõ
  4. Lương Vương Sài Tông Huấn (柴宗訓), sau này là Hậu Chu Cung Đế
  5. Tào Vương Sài Hi Nhượng (柴熙讓)
  6. Kỷ Vương Sài Hi Cẩn (柴熙謹)
  7. Kỳ Vương Sài Hi Hối (柴熙誨)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]