Hệ thống đơn đảng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một phần của loạt bài về chính trị
Chính trị đảng phái
Phổ chính trị
Chính trị tả hữu
Cánh tả · Cánh hữu
Trung dung
Tuyên ngôn đảng
Hệ thống đảng phái
Một đảng ưu thế
Không đảng
Một đảng
Hai đảng
Nhiều đảng
Danh sách
Tư tưởng chính trị
Đảng phái theo tư tưởng
Đảng phải theo quốc gia
xem-sửa

Quốc gia đơn đảng hay hệ thống độc đảng hay hệ thống đơn đảng hay chế độ đảng trị là hình thức chính quyềnhệ thống đảng do một đảng chính trị thành lập chính quyền và không cho các đảng khác được phép đưa ứng cử viên của mình ra tranh cử. Thỉnh thoảng cụm từ "Nhà nước đơn đảng không được chính thức thiết lập" (de facto single-party state) được dùng cho hệ thống đảng thống trị để chỉ nơi luật hay việc làm bất bình đẳng để ngăn chặn các đảng đối lập nắm chính quyền. Một số nước đơn đảng chỉ đặt các đảng đối lập, các đảng liên minh dưới quyền ngoài vòng pháp luật và tồn tại như một phần của mặt trận tổ quốc. Tùy theo mức độ kiểm soát người dân, người ta chia nó ra làm chế độ hỗn hợp, chính thể đầu sỏ, chế độ quân phiệt...

Không nên lẫn lộn hệ thống đơn đảng khác với nền dân chủ không đảng phái, nơi cấm tất cả các đảng hoạt động. Ngoài ra, một số quốc gia đơn đảng có thể cho phép các thành viên không đảng phái điều hành các ghế lập pháp như trường hợp phong trào Đảng Ngoại của Đài Loan vào những thập niên 1970 và 1980.

Trong hầu hết các trường hợp, các quốc gia đơn đảng đã phát triển từ tư tưởng chủ nghĩa phát xít, Xã hội chủ nghĩa, hoặc chủ nghĩa dân tộc, đặc biệt trong quá trình giành độc lập từ sự cai trị của thực dân. Hệ thống đơn đảng thường xuất phát từ quá trình phi thực dân hóa, vì đảng ấy đã có vai trò lãnh đạo trong các cuộc đấu tranh giải phóng hay giành độc lập.

Những nguyên nhân dẫn đến chế độ đơn đảng ở các quốc gia không giống nhau. Theo lý thuyết những người theo chủ nghĩa phát xít sự cầm quyền của một đảng phát xít là tất yếu của vận động xã hội. Những người cộng sản chính thống cho rằng chế độ một đảng cộng sản là tất yếu của quá trình xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nhiều nước có chế độ một đảng sau độc lập thường được xem là tất yếu của một phong trào giải phóng dân tộc duy nhất hay phong trào giải phóng dân tộc chủ yếu. Tuy nhiên không phải nước nào sau độc lập cũng có chế độ một đảng. Một số nước chế độ đa đảng yếu đã đưa đến chế độ một đảng. Ngoài ra chế độ một đảng có thể xuất hiện trước yêu cầu bảo vệ đất nước (thường là một đảng dân tộc).

Những nơi đảng cầm quyền tán thành Chủ nghĩa Marx-Lenin, hệ thống nhà nước đơn đảng thường được gọi là xã hội chủ nghĩa. Những nước như vậy cũng được mô tả như những nước cộng sản, mặc dù họ không dùng thuật ngữ "cộng sản" để nói về họ. Những nền cộng hòa xã hội như Cuba chẳng hạn, vai trò của Đảng Cộng sản được tôn vinh trong hiến pháp, và không đảng nào được vận động hay điều hành các ứng cử viên trong bầu cử, bao gồm cả đảng cộng sản. Các ứng cử viên được bầu trên cơ sở trưng cầu dân ý cá nhân mà không có sự can dự của đảng một cách chính thức dù cho các hội đồng lập pháp được bầu ra chủ yếu bao gồm các thành viên của đảng thống trị cùng với các ứng cử viên không liên kết.

Điển hình[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia đơn đảng hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi khối Xã hội chủ nghĩa Đông Âu bị sụp đổ, số quốc gia có hệ thống độc đảng đã sụt giảm. Danh sách sau đây gồm một số nước đơn đảng được thành lập hợp pháp và tên của đảng nắm quyền (đây là danh sách không đầy đủ, một số quốc gia đơn đảng không được nhắc tới):

Ngoài ra có một số quốc gia có hệ thống đa đảng, nhưng có 1 đảng nắm vai trò then chốt trong thời gian dài (ví dụ như Singapore, Nga, Campuchia...)

Các quốc gia đơn đảng trước đây[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia điển hình bao gồm:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]