Họ Bạch dương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Bạch dương
Alnus glutinosa.jpg
Tống quán sủ đen (Alnus glutinosa)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Fagales
Họ (familia) Betulaceae
Gray, 1821
Chi điển hình
Betula
L., 1753
Các chi

Alnus - Tống quán sủ
Betula - Bạch dương, cáng lò
Carpinus - Trăn
Corylus - Phỉ
Ostrya - Thiết mộc

Ostryopsis - Hổ trăn

Họ Bạch dương[1] hay còn gọi là họ Cáng lò[2], họ Bulô [3], (danh pháp khoa học: Betulaceae) bao gồm 6 chi các loài cây thân gỗ hay cây bụi có lá sớm rụng có quả hạch, bao gồm các loài bạch dương (bulô hay cáng lò), tống quán sủ, phỉ, trănhổ trăn. Chúng chủ yếu có nguồn gốc ở vùng ôn đới của Bắc bán cầu, với một vài loài có thể sinh sống ở Nam bán cầu trong khu vực dãy núi AndesNam Mỹ.

Trong quá khứ, họ này thường được chia thành hai họ là Betulaceae bao gồm hai chi Alnus, Betula và họ Corylaceae (phần còn lại). Tuy nhiên, các sắp xếp gần đây, bao gồm cả của APG, cho thấy họ Corylaceae được nhập chung vào Betulaceae.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh thái[sửa | sửa mã nguồn]

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Bạch dương Betulaceae được phân làm 2 phân họ trong 11 chi:

  1. Phân họ
    1. Chi Alnus
    2. Chi Betula
  2. Phân họ
    1. Chi Asterocarpinus
    2. Chi Carpinus
    3. Chi †Coryloides
    4. Chi Corylus
    5. Chi †Cranea
    6. Chi †Kardiasperma
    7. Chi Ostrya
    8. Chi Ostryopsis
    9. Chi †Palaeocarpinus

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Lá và hạt của cây phỉ thông thường (Corylus avellana)

Phỉ thông thường (Corylus avellana) và phỉ Balkan (Corylus maxima) là các loài cây ăn quả quan trọng, được trồng để lấy hạt ăn được.

Các chi khác bao gồm nhiều loài cây cảnh phổ biến, được trồng rộng rãi trong các công viên và các khu vườn lớn; một vài loài bạch dương được đánh giá cao do có vỏ trơn nhẵn, sáng màu.

Gỗ của các loài cây này nói chung cứng, nặng và bền, cụ thể là gỗ từ các loài trăn. Một vài loài có tầm quan trọng kinh tế đáng kể trong quá khứ khi mà gỗ rất cứng có khả năng chống chịu hao mòn được yêu cầu, chẳng hạn cho các bánh xe do gia súc kéo, bánh răng gỗ hay các bánh xe nước, các loại thuyền chịu sóng gió, các chốt gỗ v.v. Trong phần lớn các ứng dụng này ngày nay gỗ được thay thế bằng kim loại hay các vật liệu nhân tạo.

Lưu ý[sửa | sửa mã nguồn]

Cần lưu ý khi dịch các tên gọi từ tiếng Trung sang tiếng Việt, do tên gọi phổ biến cho chi Corylus trong tiếng Trung là 榛-trăn, trong khi tiếng Việt lại gọi là phỉ, còn chi Carpinus trong tiếng Trung là 鹅耳枥 (nga nhĩ lịch), tiếng Việt gọi là trăn. Các tên gọi cho chi Ostrya (thiết mộc, do gỗ của nó rất cứng) và Ostryopsis (hổ trăn) là lấy theo tiếng Trung, do chúng có lẽ không có ở Việt Nam.

Tham chiếu[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Tên gọi bạch dương là từ phiên dịch từ берёза trong tiếng Nga, tên gọi phổ biến trong ngôn ngữ này để chỉ các loài trong họ này.
  2. ^ Trong các tài liệu bằng tiếng Việt hay gọi là họ Cáng lò, do sự có mặt của một loài tại Việt Nam là cây cáng lò Betula alnoides
  3. ^ Tên gọi bulô là từ phiên âm từ bouleau trong tiếng Pháp, tên gọi phổ biến trong ngôn ngữ này để chỉ các loài bạch dương.