Họ Hoàng đầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Hoàng đầu
N Xyrc D9741.JPG
Hình chụp gần hoa của hoàng đầu dẹp (Xyris complanata).
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
(không phân hạng) Commelinids
Bộ (ordo) Poales
Họ (familia) Xyridaceae
C.Agardh, 1823
Chi điển hình
Xyris
L., 1753
Các chi
Xem văn bản.

Họ Hoàng đầu hay họ Thảo vàng, Họ Hoàng nhãn hoặc họ Cỏ vàng (danh pháp khoa học: Xyridaceae) là một họ thực vật hạt kín. Họ này được nhiều nhà phân loại học công nhận.

Hệ thống APG III năm 2009 (không thay đổi so với Hệ thống APG II năm 2003 và Hệ thống APG năm 1998), cũng công nhận họ này và gán nó vào bộ Poales trong nhánh commelinids thuộc nhánh lớn hơn là thực vật một lá mầm. Xử lý này của APG III là sự thay đổi nhỏ so với hệ thống APG, năm 1998, trong đó người ta còn công nhận cả họ Abolbodaceae cho một số loài thực vật mà hiện tại được đưa vào họ này. Họ Abolbodaceae khi đó không đặt trong bộ nào, nhưng vẫn được gán trong cùng nhánh (mặc dù khi đó APG sử dụng cách viết "commelinoids").

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Họ Xyridaceae là các loài thực vật thân thảo ưa điều kiện đầm lầy, ưa ẩm vừa phải hay chịu hạn, sống lâu năm, có thân rễ, thân mọc thẳng, có lá mọc thành hình nơ ở sát gốc, đôi khi có các lá cưỡi (xếp đè lên nhau tại phần gốc để tạo thành một kiểu sắp xếp phẳng giống như quạt trong 2 hàng); tốt nhất có thể nhận ra bằng các cụm hoa và các hoa của chúng. Cụm hoa thường mang 1 hay nhiều cặp lá bắc dọc theo cuống cụm hoa (cán hoa); các hoa mọc thành đầu hoa và có tràng hoa dễ thấy nhưng chóng tàn. Hoa lưỡng tính, thụ phấn nhờ côn trùng. Hoa không đều vì 2 trong 3 lá đài có phiến hình thuyền còn phiến trong (giữa) dạng màng và tạo thành mũ chụp lên tràng trước khi hoa nở. Bầu nhụy thượng 1 ô với 3 giá noãn hoặc bầu 3 ô với giá noãn gốc. Quả nang không dày cùi thịt, chẻ ô (chia ngăn), nứt khi chín bằng ba van nằm trong ống đài bền. Hạt có cánh hay không cánh, chứa nội nhũ. Nội nhũ chứa dầu hoặc không dầu. Phôi mầm thẳng hay cong.

Tiến hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Họ này dường như không có nấm rễ. Cán hoa của chi Xyris đôi khi xoắn vòng. Hạt phấn có đường kính tới 185 µm ở chi Orectanthe, và chúng là các hạt phấn gần như lớn nhất trong thực vật hạt kín. Kiểu đính noãn rất hay thay đổi ở chi Xyris, nhưng về cơ bản trong họ là kiểu đính noãn vách.

Có một vài đề xuất cho rằng họ Xyridaceae có thể không đơn ngành (Michelangeli et al. 2003; Davis et al. 2004, hỗ trợ rất yếu), nhưng việc lấy mẫu cần được cải thiện. Campbell (2004) đã thực hiện một phân tích phát sinh chủng loài chi tiết của sự biến thiên hình thái. Cụ thể, chi Abolboda là khác biệt và có thể được đặc trưng như sau: khí khổng 4 tế bào; nhị lép hình chỉ, lớp tế bào dinh dưỡng quanh bào tử có dạng hợp bào, noãn có 1 hay nhiều lớp tế bào ngoài túi phôi; các tế bào vỏ trong lớn, so le với các tế bào vỏ ngoài; nội nhũ phân chia không đều (helobial).

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống Cronquist năm 1981 cũng công nhận họ này và đặt nó trong bộ Commelinales của phân lớp Commelinidae trong lớp Liliopsida thuộc ngành Magnoliophyta. Hệ thống Wettstein phiên bản cập nhật lần cuối năm 1935 đặt họ này trong bộ Enantioblastae.

Họ Hoàng đầu theo nghĩa của APG III chứa khoảng 260-300 loài trong 5 chi, trong đó phần lớn các loài thuộc về chi Xyris (xem thêm Abolboda). Các loài này chủ yếu sinh sống tại khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới và ôn đới ấm.

APG chia họ này ra thành 2 nhóm như sau.

  • Xyridoideae:

Lá xếp thành 2 hàng, cưỡi và có cấu trúc hai bề mặt giống nhau, có lưỡi bẹ; (A 6), (vách trong bao phấn thiếu phần dày lên), các tế bào trong lớp mô dinh dưỡng của bao phấn là loại hai nhân, nhị lép 3, phân nhánh và với các lông chuỗi hạt tại chỗ kết thúc nhánh; hạt phấn thuôn dài, không gai, (có đường nứt chẻ đôi); noãn thẳng, kiểu đính noãn vách (xâm nhập); n = 8, 9, 13, 14, 16 v.v., đa bội rộng khắp; n = 9, 13, 17. Chất nhầy do các lông trong các nách lá tiết ra. Chỉ có 1 chi (Xyris) với khoảng 225-300 loài. Phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới tới ôn đới ấm, trong đó khoảng 150 loài tại Brasil.

  • Abolbodoideae, đồng nghĩa: Abolbodaceae Nakai:

Lá mọc vòng (hai hàng, có thể cưỡi hoặc không, có cấu trúc hai bề mặt giống nhau - chi Achlyphila); (cụm hoa phân nhánh; mở - Achlyphila và một vài loài chi Abolboda; với 1 hay nhiều cặp lá bắc mọc đối dọc theo cán hoa - Achlyphila, Abolboda); (K 2 - Abolboda), (bao phấn hướng trong), nhị lép thường không có (hình chỉ ở một vài loài thuộc chi Abolboda); phấn hoa hình cầu, không lỗ hở; bộ nhụy với các phần phụ đường gờ có mạch [không chỗ nối] trên bầu nhụy, (0 ở chi Achlyphila), vòi nhụy thường đặc; noãn ngược (hơi đối xứng nhưng một nửa đảo ngược; với 1 hay vài lớp tế bào ngoài túi phôi), lỗ hở nhỏ ở đỉnh noãn là loại hai khí khổng [Aratitiyopea]; n = 8-10, 13, 17. Có 4 chi với khoảng 26 lài: Chi đa dạng nhất là Abolboda (22 loài). Sinh sống tạ Nam Mỹ, cụ thể là tại cao nguyên Guyana.

Các chi[sửa | sửa mã nguồn]

Phát sinh chủng loài[sửa | sửa mã nguồn]

Cây phát sinh chủng loài dưới đây lấy theo APG III.

Poales 


Typhaceae s. l. 

Typhaceae s. s.



Sparganiaceae (Sparganium)




Bromeliaceae





Rapateaceae






Xyridaceae



Eriocaulaceae





Mayacaceae




Thurniaceae




Juncaceae



Cyperaceae









Anarthriaceae




Centrolepidaceae



Restionaceae






Flagellariaceae





Joinvilleaceae



Ecdeiocoleaceae




Poaceae









Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]