Họ Sơn ca

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Sơn ca
Alauda arvensis 2.jpg
Sơn ca Á-Âu (Alauda arvensis)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Aves
Bộ (ordo) Passeriformes
Phân bộ (subordo) Passeri
Cận bộ (infraordo) Passerida
Liên họ (superfamilia) Sylvioidea
Họ (familia) Alaudidae
Các chi

Họ Sơn ca (danh pháp khoa học: Alaudidae) là một họ chim dạng sẻ, chủ yếu sinh sống tại Cựu thế giới. Chỉ một loài, sơn ca bờ biển là có sinh sống ở Bắc Mỹ, tại đó nó được gọi là horned lark (sơn ca có sừng).

Sơn ca là các loài chim nhỏ sống trên mặt đất, thường có giọng hót mê hoặc và kiểu bay liệng kì dị. Điều này kết hợp với việc chúng hay sinh sống gần các khu dân cư— đã đảm bảo cho sơn ca một vị trí nổi bật trong văn chương và âm nhạc (ví dụ sơn ca được ca tụng trong "The Lark Ascending" (1914) của Ralph Vaughan Williams).

Các loài sơn ca làm tổ trên mặt đất, đẻ 2–6 trứng vỏ đốm. Như nhiều loài chim sống trên mặt đất khác, phần lớn các loài sơn ca có các vuốt chân sau dài, được người ta coi là giúp chúng ổn định hơn khi đứng.

Phần lớn các loài sơn ca có vẻ ngoài kém nổi bật. Chúng ăn sâu bọ và hạt.

Chim sơn ca là biểu tượng cho hạnh phúc, hy vọng, may mắn, tự do, niềm vui, tuổi trẻ, tính sáng tạo và ngày mới. Trong haiku của người Nhật, sơn ca hay 雲雀 (vân tước, ヒバリhibari) là từ để chỉ mùa xuân trong năm. Đối với người Trung Quốc, có một tín ngưỡng dân gian cho rằng sơn ca (tiếng Trung gọi là bách linh/bạch linh (百灵/白灵) hay vân tước (雲雀)) là linh hồn của người ta trở về từ cõi chết. Nó được thể hiện trong thành ngữ: 死了变成白灵鸟, 飞来也要卯亲亲 (tử liễu biến thành bạch linh điểu, phi lai dã yếu mão thân thân: chết đi biến thành chim bạch linh, buổi sớm bay đến thăm người thân).

Các mối quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sơn ca là họ được định nghĩa khá rõ ràng, một phần là do hình dáng khối xương cổ chân của chúng[1]. Trong một thời gian dài người ta đã xếp họ này tại/gần điểm khởi đầu của chim biết hót (Oscines, hiện nay thường gọi là Passeri) trong cây tiến hóa, chỉ ngay sau nhóm chim cận biết hót (Suboscines, hiện nay thường gọi là Tyranni) và trước các loài nhạn (Hirundinidae), chẳng hạn như trong danh lục đầu tiên của Hiệp hội Điểu học Hoa Kỳ (AOU) vào năm 1886[2][3]. Một số tổ chức khác, như Hiệp hội Điểu học Anh (BOU)[4] cũng như sách Handbook of the Birds of the World, trung thành với điều này. Tuy nhiên, nhiều phân loại khác tuân theo phân loại Sibley-Ahlquist trong việc đặt sơn ca trong một phân nhóm lớn của chim biết hót là Passerida (nhóm loại trừ các loài quạ, bách thanh và các đồng minh của chúng, Vireonidae (vireo) và nhiều nhóm chim đặc trưng khác của khu vực AustraliaĐông Nam Á). Chẳng hạn, Hiệp hội Điểu học Hoa Kỳ đặt sơn ca ngay sau quạ, bách thanh và vireo. Ở cấp độ chi tiết hơn, hiện nay một số tác giả đặt sơn ca ở gần như mức bắt đầu của siêu họ Sylvioidea cùng với các loài nhạn, các nhóm "chích Cựu thế giới" và "khướu và họa mi" khác nhau[5][6].

Các loài theo trật tự phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Australasianbushlark.jpg
Mirafra africana1.jpg
Bengal bushlark (Mirafra assamica) in Kolkata W IMG 4596.jpg
M affinis.jpg
Spike-heeled Lark 001.jpg
Ashy-crowned Sparrow Lark (Male) I IMG 8244.jpg
Steinlerche.jpg
Gray's Lark.jpg

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ridgway, Robert (1907). “The Birds of North and Middle America, Part IV”. Bulletin of the United States National Museum 50: 289–290. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  2. ^ The American Ornithologists' Union (6-1886). “The American Ornithologists' Union Check-List of North American Birds”. The American Naturalist 20 (6): 539. doi:10.1086/274272. 
  3. ^ Patterson, Bob (2002). “The History of North American Bird Names in the American Ornithologists' Union Checklists 1886 - 2000”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2003. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  4. ^ Dudley, Steve P.; Gee Mike; Kehoe Chris; Melling Tim M. (2006). “The British List: A Checklist of Birds of Britain (7th edition)”. Ibis 148 (3): 526–563. doi:10.1111/j.1474-919X.2006.00603.x. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  5. ^ Barker, F. Keith; Barrowclough George F.; Groth Jeff G. (2002). “A phylogenetic hypothesis for passerine birds: taxonomic and biogeographic implications of an analysis of nuclear DNA sequence data” (pdf). Proc. R. Soc. B 269 (1488): 295–308. doi:10.1098/rspb.2001.1883. PMC 1690884. PMID 11839199. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  6. ^ Alström, Per; Ericson Per G.P.; Olsson Urban; Sundberg Per (tháng 2 năm 2006). “Phylogeny and classification of the avian superfamily Sylvioidea”. Molecular Phylogenetics and Evolution 38 (2): 381–397. doi:10.1016/j.ympev.2005.05.015. PMID 16054402. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]