Họ Thanh thất

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Họ Thanh thất
Ailanthus altissima2.jpg
Cây xú xuân (Ailanthus altissima)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Sapindales
Họ (familia) Simaroubaceae
DC., 1811
Chi điển hình
Simarouba
Aubl., 1775
Các chi
Xem văn bản.

Họ Thanh thất (danh pháp khoa học: Simaroubaceae) là một họ nhỏ, chủ yếu là các loài cây nhiệt đới thuộc bộ Bồ hòn (Sapindales). Trong các thập kỷ gần đây nó là chủ đề của nhiều tranh luận trong phân loại học, với một vài họ nhỏ khác được tách ra hay nhập vào nó.

Loài được biết đến nhiều nhất là cây xú xuân (Ailanthus altissima), có nguồn gốc ở vùng ôn đới thuộc Trung Quốc, nhưng hiện nay đã phân bổ rộng khắp thế giới như một loài cây dại trong các khu đô thị.

Có lẽ tại Việt Nam không có loài nào thuộc chi Simarouba nên họ này lấy tên gọi trong tiếng Việt theo cây thanh thất (Ailanthus triphysa). Một loài cây khác tại Việt Nam gọi là xoan rừng (các tên khác: sầu đâu, sầu đâu rừng, nha đảm v.v, Brucea javanica) là một vị thuốc trong Đông y. Tên gọi sầu đâu hay nha đảm dễ gây nhầm lẫn. Chi tiết cụ thể xem bài Xoan.

Theo L. Watson và M. J. Dallwitz trong The Families of Flowering Plants (Các họ thực vật có hoa) từ năm 1992 trở đi thì được sáp nhập vào họ này là các họ nhỏ như: Ailanthaceae (J.G. Agardh), Castelaceae (J.G. Agardh), Holacanthaceae (Jadin), Simabaceae (Horan.), Soulameae (hay Soulameaceae Endl.) còn các họ bị loại ra là Irvingiaceae, Ixonanthaceae, Kirkiaceae, Leitneriaceae, Picramniaceae, Surianaceae v.v...

Các chi[sửa | sửa mã nguồn]

Theo website của APG, tra cứu ngày 17-2-2009 thì họ này có khoảng 50 loài trong khoảng 20 chi là các chi:

IPNI[sửa | sửa mã nguồn]

IPNI còn công nhận các chi sau:

  • Cedronia (APG xếp là từ đồng nghĩa của Picrolemma)
  • IPNI chuyển chi Valenzuelia (được PlantSystematics.org công nhận thuộc họ này) sang họ Bồ hòn (Sapindaceae).

APG 1998[sửa | sửa mã nguồn]

APG 1998 tách các họ, chi sau:

  • Irvingiaceae sang bộ Sơ ri (Malpighiales) chứa 3 chi: Desbordesia, Irvingia, Klainedoxa, khoảng 20 loài.
  • Ixonanthaceae sang bộ Sơ ri chứa 4- 5 chi (khoảng 30 loài) là: Allantospermum ?, Cyrillopsis, Ixonanthes, Ochthocosmus, Phyllocosmus.
  • Kirkiaceae cùng bộ chứa chi Kirkia khoảng 8 loài.
  • Leitneriaceae cùng bộ chứa 1 chi duy nhất Leitneria với 1 loài.
  • Picramniaceae cùng bộ chứa 2 chi và khoảng 50 loài là: Alvaradoa, Picramnia. Hiện tại APG III 2009 xếp họ này vào bộ độc lập gọi là Picramniales[1].
  • Stylobasiaceae sang bộ Đậu (Fabales) (đồng nghĩa của Surianaceae?) chứa 1 chi với 2 loài là Stylobasium.
  • Surianaceae sang bộ Đậu (Fabales) chứa 4 chi là: Suriana, Cadellia, GuilfoyliaRecchia với chỉ khoảng 5 loài.

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Picramniales Tra cứu 23-10-2009

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]