Học viện Lục quân (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Học viện Lục quân
Hoạt động 07/7/1946 - nay
Quốc gia  Việt Nam
Phục vụ Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Chức năng Đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu cấp trung đoàn, sư đoàn và chiến dịch quân sự
Quy mô 3.000 người
  • 10 Phòng Ban cơ quan
  • 16 Khoa Đào tạo
  • 04 Hệ quản lý Học viên
  • 03 Tiểu đoàn Học viên
Bộ phận của Bộ Quốc phòng (Việt Nam)
Bộ chỉ huy TP. Đà Lạt, Lâm Đồng
Tên khác Trường Học viện Lục quân Đà Lạt
Hành khúc Bài hát truyền thống Nhà trường
Thành tích Những phần thưởng cao quý:
  • Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (2001)
  • Huân chương Hồ Chí Minh (1885)
  • 01 Huân chương Quân công Hạng nhất (1976)
  • 01 Huân chương Quân công Hạng nhì (1983)
Các tư lệnh
Giám đốc Trung tướng Trần Xuân Ninh
Chính ủy Trung tướng Trần Xuân Bảng

Học viện Lục quân trực thuộc Bộ Quốc phòng Việt Nam là nơi chuyên đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu cấp trung đoàn, sư đoàn lục quân và chiến dịch quân sự cho các binh chủng, cơ quan và đơn vị thuộc quân chủng lục quân. Học viện được thành lập ngày 7 tháng 7 năm 1946.

  • Trụ sở chính của Học viện đóng quân tại phường 9, Thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Học viện Lục quân là một trong những Học viện lớn của quân đội Việt Nam, ra đời ngày 7 tháng 7 năm 1946 tại Tông, thị xã Sơn Tây, Hà Tây với tên gọi Lớp Bổ túc Cán bộ Quân sự trung cấp.
  • Từ ngày thành lập và khi vào tiếp quản trường Võ bị Đà Lạt đến nay, Học viện đã 8 lần thay đổi tên gọi và 9 lần thay đổi địa điểm đóng quân khác nhau.
  • Ngày 15 tháng 3 năm 1948 đổi tên thành Trường Bổ túc Quân chính trung cấp.
  • Tháng 5 năm 1955 mang tên mới là Trường Bổ túc Quân sự trung cao cấp.
  • Từ ngày 3 tháng 3 năm 1961 đến ngày 21 tháng 5 năm 1965 nhập với Trường Chính trị trung cao cấp thành Học viện Quân chính. Năm 1965 Học viện Quân chính lại tách thành Học viện Quân sự và Học viện Chính trị.
  • Cuối năm 1975 Học viện Quân sự chuyển từ Hà Nội vào Đà Lạt, bên hồ Chiến Thắng và hồ Sương Mai (trước đây là trụ sở của Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt thuộc Việt Nam Cộng hòa)
  • Từ ngày 16 tháng 12 năm 1981 có tên mới là Học viện Lục quân Đà Lạt
  • Từ năm 2000, Học viện Lục quân lại được bổ sung thêm nhiệm vụ đào tạo Sĩ quan chỉ huy - Tham mưu cao cấp binh chủng hợp thành cấp Sư đoàn, tỉnh (thành) có trình độ đại học, đào tạo các nhà nghiên cứu khoa học quân sự có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cho toàn quân.

Nhân sự và cơ sở vật chất [1][sửa | sửa mã nguồn]

Học viện Lục quân là nơi có khuôn viên khang trang, cơ sở vật chất hiện đại, đội ngũ cán bộ, giảng viên mạnh, hầu hết đã qua thực tế, được đào tạo cơ bản ở các nhà trường trong và ngoài nước, nhiều người có học hàm, học vị(Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ, Thạc sỹ), có 02 người được nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân là Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ và Thiếu tướng Nguyễn Đức Quý; 12 người được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Nhà giáo ưu tú". Năm 2008, đội ngũ cán bộ có trình độ sau đại học của học viện là 236/493 người, chiếm 47,65%, trong đó có gồm 54 Tiến sĩ.

Chức năng, nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đào tạo sĩ quan chỉ huy tham mưu chiến thuật cấp trung đoàn, sư đoàn, chiến dịch cho tất cả các binh chủng thuộc Quân chủng Lục quân; đào tạo Sĩ quan chỉ huy - Tham mưu cao cấp binh chủng hợp thành cấp Sư đoàn, tỉnh (thành) có trình độ đại học, đào tạo các nhà nghiên cứu khoa học quân sự có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cho toàn quân..
  • Nghiên cứu khoa học nghệ thuật Quân sự Lục quân.
  • Đào tạo các cử nhân khoa học quân sự, góp phần vào công việc đại học hóa sỹ quan lục quân và từng bước cao học hóa đội ngũ giáo viên quân sự các Học viện, nhà trường toàn quân.

Tên gọi qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lớp Bổ túc Cán bộ Quân sự trung cấp (1946-1948), khai giảng ngày 7 tháng 7 năm 1946
  • Trường Bổ túc cán bộ Quân sự trung cấp (1948-1951)
  • Trường Bổ túc Quân chính trung cấp (1948-1951)
  • Trường Bổ túc Quân chính trong nước và nước ngoài (1951-1954)
  • Trường Bổ túc Quân sự trung cao cấp (1955-1961)
  • Từ 1961 đến 1965 nhập với Trường Chính trị trung cao cấp thành Học viện Quân chính
  • Tách Học viện Quân chính thành Học viện Quân sự và Học viện Chính trị. Học viện Quân sự: 1965-1981
  • Học viện Lục quân [Đà Lạt]: từ 1981 đến nay.

Thành tích và tặng thưởng [2][sửa | sửa mã nguồn]

  • Hơn 60 năm qua (1946-2008), Học viện đã đào tạo và bổ túc được hơn 190 khóa học cho hơn 36.000 cán bộ chỉ huy cho Quân đội Việt Nam và hai nước Lào, Campuchia, giới thiệu kinh nghiệm cho 42 đoàn đại biểu quân sự của 19 nước và phong trào giải phóng dân tộc thuộc các châu: Âu, Á, Phi, Mỹ La-tinh.…. Nhiều đồng chí phát huy tốt phẩm chất trí tuệ, và đã trở thành tướng lĩnh, cán bộ cao cấp của Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đảng và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
  • Danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân (2001)
  • Huân chương Hồ Chí Minh (1885)
  • 01 Huân chương Quân công Hạng nhất (1976)
  • 01 Huân chương Quân công Hạng nhì (1983)
  • 02 Huân chương Chiến công Hạng nhất (1962,1984) được Nhà nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào tặng.

Giám đốc Học viện Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ quan trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Phòng Đào tạo
  2. Phòng Chính trị
  3. Phòng Sau đại học.
  4. Phòng Khoa học quân sự
  5. Phòng Thông tin Khoa học quân sự
  6. Phòng Hậu cần
  7. Phòng Kỹ thuật
  8. Văn phòng
  9. Ban Tài Chính
  10. Ban Khảo thí và Bảo đảm chất lượng giáo dục-đào tạo

Các khoa đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khoa Chiến thuật.
  • Khoa Chiến dịch.
  • Khoa Chỉ huy- Tham mưu.
  • Khoa Mác-Lênin - Tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Khoa CTĐ, CTCT.
  • Khoa Quân sự địa phương.
  • Khoa Tăng- Thiết giáp.
  • Khoa Pháo binh.
  • Khoa Thông tin.
  • Khoa Công binh.
  • Khoa Trinh sát.
  • Khoa Hoá học.
  • Khoa Quân chủng
  • Khoa Quân sự chung.
  • Khoa Sư phạm quân sự.
  • Khoa Hậu cần- Kỹ thuật.
  • Khoa Tin học - Ngoại ngữ.

Doanh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đoàn an điều dưỡng 198 - Địa chỉ: Số 2, đường Lữ Gia, P.9, Đà lạt.
  • Khách sạn 36 Trần Phú- Thành phố Nha Trang.

Hiệu trưởng, Giám đốc, Viện trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Hưng Nghĩa, Giám đốc Lớp Bổ túc Cán bộ Quân sự trung cấp (1946-1948)
  • Cao Xuân Hổ, Hiệu trưởng Trường Bổ túc Quân chính trung cấp
  • Trương Vân Lĩnh, Hiệu trường Trường Bổ túc quân chính trung cấp.
  • Hoàng Minh Thảo, Giám đốc Trường Bổ túc Quân chính trung cấp (1954-1955), Giám đốc Trường Bổ túc Quân sự trung cao cấp (1955-1961), Thiếu tướng 1959
  • Trung tướng Trần Văn Trà, Giám đốc Học viện Quân chính (1961-1963)
  • Thiếu tướng Vương Thừa Vũ, Giám đốc Học viện Quân chính (1964-1965)

Học viện Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Học viện Lục quân[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “65 năm Học viện Lục quân tự hào vững tin đi lên phía trước”. 
  2. ^ “Học viện Lục quân tự hào vững tin đi lên phía trước”.