Hồ Hán Thương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hồ Hán Thương
Vua Việt Nam (chi tiết...)
Tại vị 1401 - 1407
Tiền nhiệm Hồ Quý Ly
Kế nhiệm Không có
Thông tin chung
Niên hiệu Thiệu Thành (1401 - 1402)
Khai Đại (1403 - 1407)
Hoàng tộc Nhà Hồ
Thân phụ Hồ Quý Ly
Thân mẫu Công chúa Huy Ninh

Hồ Hán Thương (? - 1407), là vua thứ hai và cũng là vua cuối cùng của nhà Hồ, cai trị nước Đại Ngu từ năm 1401 đến 1407.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Hồ Hán Thương (chữ Hán:胡漢蒼) là con thứ của vua Hồ Quý Ly và Công chúa Huy Ninh - con gái vua Trần Nghệ Tông.

Hồ Hán Thương được vua cha yêu và có ý định truyền ngôi. Chính Hồ Quý Ly e ngại con trưởng Hồ Nguyên Trừng không bằng lòng. Tuy nhiên Hồ Nguyên Trừng khẳng khái tỏ lòng mình không tranh giành với em, do đó Hồ Quý Ly quyết định truyền ngôi cho ông.

Năm 1401, ông được phụ hoàng chính thức truyền ngôi. Bản thân Quý Ly trở thành thái thượng hoàng và vẫn nắm quyền quyết định mọi việc.

Đánh Chiêm Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian ở ngôi, Hồ Hán Thương đã 2 lần đánh Chiêm Thành. Lần đầu năm 1402, quân Đại Ngu thắng lợi, khiến vua Chiêm phải dâng Chiêm Động và Cổ Lũy (Quảng Nam và bắc Quảng Ngãi hiện nay). Nhà Hồ chiếm được đất ấy đặt ra 4 châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa.

Năm 1403 Hồ Hán Thương lại sai Phạm Nguyên Khôi đi đánh Chiêm. Quân Đại Ngu vây kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành trong 9 tháng không hạ được, bị hết lương phải rút về.

Lãnh thổ Đại Ngu dưới thời Hồ Hán Thương được mở về phía Nam đến bắc Quảng Ngãi.

Cuộc xâm lược của nhà Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Khang, một gia nô của Trần Tông - người bị nhà Trần trị tội theo Chiêm Thành - đổi tên là Thiêm Bình, trốn sang Trung Quốc tự xưng là con cháu nhà Trần và xin viện binh đánh nhà Hồ.

Năm 1404, nhà Minh sai Lý Ỷ sang hỏi nhà Hồ về việc Trần Thiêm Bình. Sau khi Lý Ỷ về, Hồ Hán Thương sai Nguyễn Cảnh Chân dâng biểu tạ tội và xin rước Trần Thiêm Bình về nước và tôn làm chúa. Minh Thành Tổ hứa phong cho Hán Thương một quận lớn nếu chịu quy phục[1].

Biết nguy cơ xâm lược của nhà Minh, Hồ Hán Thương cùng Thượng hoàng Hồ Quý Ly ra sức chuẩn bị. Ông động viên thêm quân, xây thành Đa Bang, phòng thủ các cửa sông.

Năm 1406, nhà Minh sai Hoàng Trung mang quân đưa Trần Thiêm Bình về nước. Hồ Hán Thương điều binh đón đánh. Quân Đại Ngu đánh bại quân Minh khiến Hoàng Trung phải giao nộp Thiêm Bình mới rút được về nước.

Cuối năm 1406, Minh Thành Tổ lại sai Trương Phụ, Mộc Thạnh mang 80 vạn quân sang đánh Đại Ngu. Lấy danh nghĩa "phù Trần diệt Hồ", nhà Minh viết bảng văn kể tội họ Hồ để phân hóa người Việt. Các chính sách cải cách do thượng hoàng Quý Ly khởi xướng vốn không được nhân dân ủng hộ nên nhiều người không hết sức vì nhà Hồ đánh quân Minh[2].

Quân nhà Hồ liên tiếp bị thua các trận Mộc Hoàn và mất thành Đa Bang. Tháng 2 năm 1407, Hồ Hán Thương cùng thượng hoàng Quý Ly phải lui về Tây Đô.

Tháng 3, Hồ Nguyên Trừng tập hợp lại lực lượng và sai người đón ông cùng Hồ Quý Ly ra bắc cự địch. Hai bên đụng độ ở Hàm Tử. Quân nhà Hồ bị phục binh của quân Minh, bị thua nặng. Hồ Hán Thương cùng cha lại phải chạy vào Tây Đô (Thanh Hóa).

Ngày 23 tháng 4, quân Minh đánh vào Lỗi Giang[3], quân nhà Hồ không đánh mà tan. Ngày 29, quân Minh đánh vào cửa biển Điển Canh, thủy quân nhà Hồ tự tan vỡ.

Hồ Hán Thương cùng cha định lánh đến Thâm Giang nhưng không thành, phải bỏ chạy vào Tân Bình. Cha con lạc nhau, Hồ Hán Thương mang thái tử Hồ Nhuế chạy vào núi Cao Vọng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh).

Ngày 11 tháng 5, quân Minh đánh vào Vĩnh Ninh. Tướng Minh là Vương Sài Hồ bắt được Hồ Quý Ly ở ghềnh Chẩy Chẩy; Lý Bân bắt được Hồ Nguyên Trừng ở cửa biển Kỳ La.

Ngày 12, bộ tướng của Mạc Thuý - hàng tướng người Việt - là Nguyễn Như Khanh bắt được Hồ Hán Thương và thái tử Hồ Nhuế ở núi Cao Vọng (Kỳ Anh, Hà Tĩnh).

Kết cục[sửa | sửa mã nguồn]

Riêng Hồ Nguyên Trừng có tài được thu dụng, còn cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị đày ra Quảng Tây. Trong số những quan lại nhà Hồ bị bắt, vua Minh giả cho một số người làm thị lang, tham chính các nơi xa, nhưng trên đường đi sai người trừ khử.

Năm 1407,ông bị Nhà Minh đày ra Trung Quốc và giết hại như Hồ Quý Ly.Không rõ ông bao nhiêu tuổi. Nhà chính trị Hồ Hán Dân thời Trung Hoa Dân Quốc nhận mình là dòng dõi của Hồ Hán Thương[4].

Niên hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong 7 năm ở ngôi, Hồ Hán Thương đặt 2 niên hiệu:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 46
  2. ^ Viện Sử học, sách đã dẫn, tr 53
  3. ^ Một nhánh của sông Mã ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, hạ lưu thông với sông Đại Lại
  4. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 419