Hồi giáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Biểu tượng của Hồi giáo được thế giới biết đến
Tỷ lệ dân mỗi nước theo đạo Hồi
Các nhánh của Hồi giáo
Các quốc gia Hồi giáo: hệ phái Shia màu đỏ; hệ phái Sunni màu lục
Tín đồ Islam lễ bái

Một phần của loạt bài về
Hồi giáo

Mosque02.svg

Tín điều

Allah · Sự Duy Nhất của Thượng Đế
Muhammad · Các sứ giả của Islam

Hành đạo

Tuyên xưng Đức Tin · Lễ cầu nguyện
Nhịn chay · Bố thí · Hành hương

Lịch sử & Các lãnh tụ tôn giáo

Niên biểu lịch sử Islam
Ahl al-Bayt · Sahaba
Các khalip Rashidun · Các Imam hệ phái Shia

Kinh điển & Giáo luật

Qur'an · Sunnah · Hadith
Fiqh · Sharia
Chủ thuyết Kalam · Tasawwuf (chủ thuyết Sufi)

Các chi nhánh lớn

Sunni · Shi'a · Sufi · Khariji · Kalam

Văn hóa & Xã hội

Học thuật · Nghệ thuật
Lịch · Dân số
Lễ hội · Các thánh đường Islam · Triết học
Chính trị · Phụ nữ

Islam và các tôn giáo khác

Ấn giáo · Cao Đài
Cơ Đốc giáo · Do Thái giáo
Đạo giáo · Nho giáo · Phật giáo

Xem thêm

Từ ngữ về Islam trong tiếng Ả Rập

Cổng tri thức Islam

Hồi giáo (tiếng Ả Rập: الإسلام al-'islām), còn gọi đạo Islam, là một tôn giáo độc thần thuộc nhóm các tôn giáo Abraham. Đây là tôn giáo lớn thứ hai trên thế giới, sau Kitô giáo, và là tôn giáo đang phát triển nhanh nhất, với số tín đồ hiện nay là 1,3 tỷ.[cần dẫn nguồn]

Mục lục

Nguồn gốc [sửa]

Đối với người ngoài, đạo Hồi giáo ra đời vào thế kỷ 7 tại bán đảo Ả Rập, do Thiên Sứ Muhammad nhận mặc khải của thượng đế truyền lại cho con người qua thiên thần Jibrael . Đạo Hồi chỉ tôn thờ Allah Đấng Tối Cao, Đấng Duy Nhất (tiếng Ả Rập: الله Allāh). Đối với tín đồ, Muhammad là vị Thiên Sứ cuối cùng được Allah mặc khải Thiên Kinh Qur'an (còn viết là Koran) qua Thiên thần Jibrael.

Điều đầu tiên chúng ta nên biết và hiểu rõ về Islam là từ “Islam” có nghĩa là gì. Tên Islam không được đặt theo tên người như trong trường hợp Kitô giáo, được đặt tên theo Chúa Giê-su, Phật giáo được đặt tên theo Đức Phật, đạo Khổng được đặt tên theo Đức Khổng Tử, và chủ nghĩa Mác được đặt tên theo Các Mác.

Các tên gọi và cụm từ liên quan [sửa]

Nguyên nghĩa của « Hồi giáo » trong tiếng Ả Rập là Islam và có nghĩa là "vâng mệnh, quy phục Thượng Đế". Người theo Islam, trong tiếng Ả Rập gọi là Muslim, do đó có các chữ muslim, moslem tiếng Anh và musulman tiếng Pháp. Danh từ « Hồi giáo » xuất xứ từ dân tộc Hồi Hột. Hồi Hột là nước láng giềng phương bắc của Trung Quốc từ năm 616 đến 840. Lúc rộng lớn nhất lãnh thổ họ đông đến Mãn Châu, tây đến Trung Á [1], và họ đã giúp nhà Đường dẹp được loạn An Lộc Sơn. Với thời gian, cách gọi đổi thành « Hồi Hồi ». Tài liệu xưa nhất dùng danh từ « Hồi Hồi » là Liêu Sử, soạn vào thế kỷ 12.[2] Đời nhà Nguyên (1260 - 1368), tại Trung quốc, cụm từ « người Hồi Hồi » được dùng để chỉ định người Trung Á, bất luận theo tín ngưỡng nào. Đến đời Minh (1368 - 1644), cụm từ « người Hồi Hồi » mới dần dần đổi nghĩa để chỉ định tín đồ Islam.[2]

Trước đó, người Hán thường gọi Islam là « Đại Thực giáo » hay « đạo A-lạp-bá ».[3] « A-lạp-bá » là phiên âm tiếng Hán của danh từ « Ả Rập ». « Đại Thực » là phiên âm của chữ « Tazi », tiếng Ba Tư dùng gọi người « Ả Rập », vì « Tazi » là tên một bộ tộc người « Ả Rập » tiếp xúc nhiều với Ba Tư thời xưa.[4]

Bởi « Hồi Hồi » là tên gọi chủng tộc, không phải là dịch nghĩa của chữ Islam hay một tôn chỉ của Islam, nên một số người hạn chế dùng danh từ « Hồi giáo » hay « đạo Hồi ». Trường hợp các tên « Đại Thực » hay « A-lạp-bá » cũng thế. Bởi thế, tại Trung Quốc, ngay từ năm 1335, thời nhà Nguyên, đã có người đề ra cụm từ Thanh Chân giáo (清真教) để thích nghi hơn với tiếng Hán[5]. Đề nghị này được hưởng ứng rộng rãi nên ngày nay Thanh Chân giáo là cụm từ được ghi trong nhiều từ điển tiếng Hán [6]. Tại Trung Quốc ngày nay cũng có nhiều "Thanh Chân tự" (清真寺) (thánh đường Islam) và "Thanh Chân thực đường" (清真菜堂) (quán ăn, nhà ăn halal).

Ngày nay tại Trung Quốc người ta cũng thường gọi Islam theo phiên âm là Y Tư Lan giáo (伊斯蘭教 Yīsīlán jiào).[7]. Cơ quan đại diện Islam chính thức tại Trung Quốc có tên là "Trung Quốc Y Tư Lan giáo hiệp hội" (中国伊斯兰教协会 Zhōngguó Yīsīlánjiào xiéhuì) được ra đời ngày 11 tháng 5 năm 1953, trực thuộc chính quyền và có trụ sở tại Bắc Kinh. Wikipedia Trung văn cũng dùng danh từ Y Tư Lan giáo.

Nhiều tài liệu, văn bản trong tiếng Việt từ nhiều năm nay cũng dùng danh từ đạo Islam hay đạo Ixlam. Tuy nhiên, nhiều tín hữu Islam nói tiếng Việt vẫn dùng danh từ Hồi giáo vì đã quen nghĩ đến, nói đến danh từ này một cách tôn kính.

Giáo lý [sửa]

Tuy cùng một hệ thống nhất thần của các tôn giáo khởi nguồn từ Abraham nhưng giáo lý Hồi giáo không chịu ảnh hưởng tư tưởng của Ki tô giáoDo Thái giáo. Thể hiện rõ trong kinh Koran (trong 6219 câu của kinh này đã thể hiện nội dung của kinh Cựu ƯớcTân Ước). Không như những tôn giáo bạn, đạo Hồi chỉ có duy nhất một quyển thiên kinh Qur'an, gồm có 114 chương, 6236 tiết. Đối với các tín đồ Hồi giáo, thiên kinh Qur'an là một vật linh thiêng, vì đó chính là lời phán của Allah Đấng Toàn Năng.

Người Hồi giáo tin tưởng các vị sứ giả đến trước sứ giả Muhammad, kể từ Adam đến Jesus xuyên qua Noah, Abraham, Moise, v.v. Họ cũng tin tưởng Cựu ướcTân ước là kinh sách của Allah nhưng họ không thi hành theo vì sự "lệch lạc" do người Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo tạo ra và thiên kinh Qur'an được Allah mặc khải xuống để điều chỉnh lại những gì đã sai trái ở hai kinh sách đó.

  • Jesus đối với người Hồi giáo là một sứ giả rất được kính mến, nhưng họ không tin Jesus là con của Thiên Chúa (Allah), đối với họ Jesus chỉ là một con người, một sứ giả như mọi sứ giả khác vì theo quan điểm của Hồi giáo thì Thiên Chúa không có con, như Thiên kinh Qur'an đã phán:
    Allah là Đấng Tạo Thiên Lập Địa! Làm thế nào Ngài có con khi Ngài không hề có người bạn đường? Chính Ngài là Đấng đã sáng tạo và thông hiểu tất cả mọi vật." (trích 6:101)
  • Hồi giáo không chấp nhận tội tổ tông, việc làm của AdamEve không phải là nguồn gốc tội lỗi của loài người. Và không có một ai có quyền rửa tội cho một ai khác; ngoại trừ Allah.

Sự khác nhau giữa Cựu Ước, Tân ƯớcThiên Kinh Qur'an trên quan điểm Đấng Toàn Năng như sau:

Cựu Ước:

Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình.

sách Sáng Thế 1:27.

Tân Ước:

Ta và Cha ta là một.

Tân ước Gioan 10:30.

Thiên Kinh Qu'ran:

Ngài là Đấng Duy Nhất. Allah Đấng Độc Lập và Cứu Rỗi. Ngài chẳng sinh ra ai và cũng chẳng ai sinh ra Ngài. Không một ai đồng đẳng với Ngài.

.112 : 1-4.

Đạo Hồi không có Mười Điều Răn như đạo Ki Tô nhưng kinh Qur'an cũng liệt kê mười điều tương tự:

  1. Chỉ tôn thờ một Thiên Chúa (tiếng Á Rập là Allah).
  2. Vinh danh và kính trọng cha mẹ.
  3. Tôn trọng quyền của người khác.
  4. Hãy bố thí rộng rãi cho người nghèo.
  5. Cấm giết người, ngoại trừ trường hợp đặc biệt (*).
  6. Cấm ngoại tình.
  7. Hãy bảo vệ và chu cấp trẻ mồ côi.
  8. Hãy cư xử công bằng với mọi người.
  9. Hãy trong sạch trong tình cảm và tinh thần.
  10. Hãy khiêm tốn

(*) Trường hợp đặc biệt được phép giết người mà không bị trọng tội là:

1) Trong khi kháng cự hoặc chiến đấu chống lại những kẻ lùng giết người đạo mình nhằm cưỡng bách bỏ đạo. Nhưng nếu chiến thắng, phải noi gương thiên sứ Muhammad, tha thứ và đối xử nhân đạo với phần đông kẻ bại trận.

2) Giết những tên sát nhân để trừ hại cho dân lành.

Ngoài ra tín đồ Hồi giáo có một số luật lệ:

  • Một lần trong đời, họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nhưng với điều kiện họ không vay mượn hay xin phí tổn. Trước khi đi, họ phải lo cho gia đình vợ con đầy đủ những nhu cầu cần thiết trong thời gian họ vắng mặt hành hương.
  • Nghiêm cấm ăn máu, thịt con vật đã chết trước khi được cắt tiết theo nghi thức; không được ăn thịt lợn vì lợn là con vật bẩn thỉu.
  • Nghiêm cấm uống rượu và các thức uống lên men.
  • Nghiêm cấm cờ bạc.
  • Nghiêm cấm gian dâm và trai gái quan hệ xác thịt trước khi cưới hỏi.
  • Nghiêm cấm ăn những con vật ăn thịt sống hay ăn tạp (như chó, mèo, chuột, v.v.).
  • Người Hồi giáo chỉ được ăn thịt halal, tức là thịt đã được giết mổ theo nghi thức của đạo Hồi. Tuy nhiên, trong trường hợp tuyệt đối không có gì ăn, họ được ăn mọi thứ để duy trì sự sống.
  • Hàng năm phải thực hiện tháng ăn chay Ramadan để tưởng nhớ và biết thương xót người nghèo. Tháng này tính theo lịch Mặt Trăng. Trong tháng này, khi còn ánh sáng Mặt Trời, họ không được ăn và uống, đến đêm thì mới ăn. Cũng trong tháng này, con người phải tha thứ và sám hối, vợ chồng không được gần nhau vào ban ngày nhưng ban đêm vẫn có thể ân ái với nhau. Trẻ em và phụ nữ có mang không phải thực hiện Ramadan.
  • Hồi giáo nghiêm cấm kỳ thị chủng tộc và tôn giáo, tín đồ Hồi giáo không được phép chỉ trích cũng như phán xét người khác. Đó là việc của Allah Đấng Toàn Năng

Năm điều căn bản của đạo Hồi:

  1. Tuyên đọc câu Kalimah Sahadah: Ash Ha Du Allah Ila Ha Il Lallah Wa Ash ha du an na Muhammader rosu Lullah, có nghĩa Tôi công nhận Allah là thượng đế duy nhất và ngoài ra không có ai khác cả và tôi công nhận Muhammad là vị sứ giả cuối cùng của Ngài
  2. Cầu nguyện ngày năm lần: Buổi bình minh, trưa, xế trưa, buổi hoàng hôn và tối.
  3. Bố thí.
  4. Nhịn chay tháng Ramadan.
  5. Hành hương tại Mecca.

Trên phương diện khoa học nhân văn, Hồi giáo là một tôn giáo ra đời vào thế kỷ thứ 7, dựa trên những nền tảng có sẵn của Do Thái giáoCơ Đốc giáo. Đôi khi người ta cũng gọi Hồi giáo là đạo Muhammad (Muhammadanism), theo tên của đức sáng tổ. (thật ra đạo Islam không dựa trên những nền tảng có sẵn của Do Thái giáoCơ Đốc giáo như đã nêu, và việc gọi đạo Islam theo cái tên đạo Muhammad là hoàn toàn sai bởi vì Thiên Sứ Muhammad không phải là người sáng lập Người chỉ là người được Allah lựa chọn ban cho lời mặc khải của Ngài rồi truyền đạt lại cho người khác.)

Tuy nhiên, với những tín đồ Hồi giáo, đạo của họ là đạo thường hằng trong vũ trụ, do Thượng Đế tạo ra, và vì Thượng Đế vốn bất sinh bất diệt nên đạo của Ngài cũng bất sinh bất diệt; còn Muhammad đơn thuần chỉ là một người "thuật nhi bất tác", thuật lại cho mọi người những mặc khải của Thượng Đế mà thôi. Trong quan niệm của các tín đồ, Hồi giáo không khởi sinh từ Muhammad. Với họ, con người đầu tiên do Thượng Đế tạo ra, tức Adam, là tín đồ Hồi giáo đầu tiên, và ngay từ thuở hồng hoang, khắp đất trời đã là một vương quốc Hồi giáo. Không chỉ người mà thôi, mà tất cả muông thú, cỏ cây đều tuân theo Hồi giáo cả. Sở dĩ Adam và loài người được kiến tạo là để thay mặt Thượng Đế cai quản các loài thảo cầm ở nhân gian. Và vì đẳng cấp của loài người cao như thế tự do ý chí nên vấn đề nảy sinh từ đây. Sự tự do ý chí đôi khi dẫn đến những lầm lạc, lầm lạc dẫn đến rời bỏ Thượng Đế, và xa dần chính đạo. Khi Adam, con người đầu tiên và cũng là Thiên Sứ đầu tiên, lìa trần, con cháu ông, không còn ai chỉ bảo, càng lún sâu vào con đường tối. Do thế mà Thượng Đế lại phải gửi xuống nhân gian những vị Thiên Sứ mới để nhắc lại Thiên Đạo, đưa loài người về đúng nẻo ngay. Trước Muhammad, đã có hằng trăm ngàn Thiên Sứ giảng lời mặc khải ở trần thế, trong đó có Noah, Abraham (Ibrohim), Moses (Musa), David (Dawud) và Jesus (Ysa)... Tuy nhiên, một là do loài người u mê chưa tỉnh ngộ, hai là do sự ngoan cố, tự cao, tự đại của con người, mà chính đạo vẫn bị bóp méo như thường. Rốt cuộc, đến thế kỷ 7, Thượng Đế khải thị cho Muhammad, và biến ông trở thành vị Thiên Sứ hoàn hảo nhất trước nay, hơn hẳn những Thiên Sứ tiền nhiệm. Do đó mà đạo của Muhammad truyền bá cũng là hoàn hảo nhất, không thể bị bóp méo như trước kia. Muhammad là vị Thiên Sứ cuối cùng, và bất cứ ai dám xưng Thiên Sứ sau Muhammad đều là kẻ tà giáo. Như đã thấy ở trên, Abraham (Ibrohim) cử xuống cho Do Thái Giáo, và Jesus Christ (Ysa) cử xuống cho Cơ Đốc Giáo, đều có vị trí Thiên Sứ trong Hồi giáo. Như vậy, Thiên Chúa mà ba tôn giáo này thờ phượng chỉ là một. Nói về Hồi giáo, chúng ta vẫn thường hay nhắc Thánh Allah, nhưng gọi như thế là sai, vì Allah trong tiếng Ả Rập mang nghĩa là Thượng Đế. (Những tín đồ Cơ Đốc người Ả Rập khi cầu nguyện cũng gọi Đức Chúa Cha là Allah). Thượng Đế dĩ nhiên phải cao hơn Thánh và là duy nhất, vả lại trong đạo Hồi chính thống hoàn toàn không có khái niệm Thánh. Người Do Thái giáoThiên Chúa giáo cũng được tín đồ Hồi giáo tương đối coi trọng và gọi là Giáo Dân Thánh Thư (People of The Book). Kinh Thánh Cơ Đốc cũng là sách thiêng trong Hồi giáo, có điều người ta coi nó không đầy đủ và hoàn thiện như Koran.

Năm cột trụ của Hồi giáo [sửa]

Bên cạnh việc chấp nhận đức tin Islam, mỗi một tín đồ phải thực hiện năm bổn phận tôn giáo. Những bổn phận này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ ý thức của tín đồ với cộng đồng Islam nói chung. Chúng được coi là "Năm cột trụ của Islam".

  • 1. SHAHADAH là sự tuyên xưng và đồng thời là điều cốt lõi trong đức tin của một tín đồ. Nó bao gồm việc lặp lại hai câu: "Không có Chúa Trời nào khác ngoài Allah", và "Mohammed là sứ giả của Ngài" . Các tín đồ Islam nhắc lại những câu này hàng ngày khi cầu nguyện. Việc coi Mohammed là sứ giả cuối cùng của Chúa đã phân biệt Islam với Kitô giáoDo Thái giáo.
  • 2. SALAT là việc cầu nguyện. Tín đồ Islam phải cầu nguyên năm lần một ngày, vào lúc bình minh, giữa trưa, giữa chiều, khi mặt trời lặn và tối. Tín đồ có thể cầu nguyện tại bất cứ đâu - tại trường học, nơi làm việc, tại nhà hay ngoài trời - nhưng phải theo quy định. Trước khi cầu nguyện, tín đồ phải ở trong một trạng thái tinh thần và thể xác thanh khiết. Trước tiên họ phải súc miệng, sau đó rửa mặt, cổ, tay và chân.

Buổi cầu nguyện bao gồm việc đọc một số đoạn Kinh Koran, quỳ lạy và chạm đầu xuống đất, thể hiện sự phục tùng Chúa Trời. Tín đồ sử dụng một tấm thảm để quỳ. Khi cầu nguyện, tín đồ phải quay mặt về hướng Mecca, trung tâm tinh thần của Islam. Tại Mecca có Ka'bah, Đại thánh đường lưu giữ Tảng đá đen. Tín đồ Islam tin rằng khi thiên sứ mohammed về với allah tảng đá đòi đi theo nhưng mohammed không cho theo nên tảng đá đứng im lơ lững tại đó.

  • 3. ZAKAT là sự bố thí. Theo Kinh Koran, một người phải trao cho người khác "những thứ dư thừa" . Vì thế cột trụ thứ ba liên quan đến việc trao một tỉ lệ nào đó tài sản của một người cho người nghèo và người gặp cảnh không may.
  • 4. SAWM là việc nhịn ăn. Mọi tín đồ Islam phải nhịn ăn vào ban ngày trong tháng Ramadan, trừ trẻ em, người già và những người ốm đau bệnh tật. Những người đang có việc phải đi xa không phải nhịn ăn, nhưng họ sẽ nhịn bù sau đó. Cuộc sống như dừng lại trong tháng Ramadan, nhiều cửa hiệu đóng cửa cho đến sau buổi cầu nguyện trưa. Người Islam tin rằng trong tháng Ramadan, cửa thiên đường sẽ mở ra và cửa địa ngục đóng lại, và mọi lỗi lầm sẽ được tha thứ. Đây là thời gian dành cho sự suy tưởng tôn giáo. Tín đồ hay trở dậy vào ban đêm để đọc Kinh Koran và đến giáo đường nhiều hơn ngày thường. Vào ngày kết thúc tháng Ramadan có một lễ hội lớn với rất nhiều đồ ăn và quà tặng. Đó là lễ Eid al-Fitr, kỉ niệm việc chấm dứt thời kì ăn chay.
  • 5 HAJJ là việc hành hương. Ít nhất một lần trong đời, những tín đồ Islam có khả năng phải hành hương tới thánh địa Mecca. Việc hành hương thể hiện sự phục tùng Chúa Trời và diễn ra vào tháng thứ 12, tháng cuối cùng của năm Islam. Eid al Adha, lễ hiến tế, đánh dấu ngày kết thúc kì hành hương, kéo dài trong mười ngày.

Mỗi năm, hàng triệu tín đồ Islam từ khắp nơi trên Thế giới đổ về Mecca thuộc Ả Rập Xê Út. Những người hành hương mặc áo choàng trắng đơn sơ, bất kể giàu nghèo. Điều này tượng trưng cho đức tin của Islam rằng mọi người đều bình đẳng trước Chúa. Người hành hương không đeo trang sức hay xức nước thơm. Họ phải gạt bỏ phù hoa để tìm kiếm sự tha thứ, dẫn dắt và cứu rỗi linh hồn từ Chúa.

Sự phân chia Hồi giáo [sửa]

Sau khi nhà tiên tri Mohammad của Hồi giáo qua đời, không bao lâu sau đó và trong quá trình phát triển, mâu thuẫn giữa những người theo dòng Sunnidòng Shiite ở nước này hay nước khác thường xuyên xảy ra và dẫn đến những vụ xung đột, trong đó có những vụ đánh bom tàn sát lẫn nhau ngày một tăng lên và phức tạp; gây ra những lo âu, sợ hãi cho tín đồ Hồi giáo nói riêng và người dân nói chung ở nhiều quốc gia.

Vậy đâu là nguyên nhân? Có ý kiến cho rằng người Sunni và Shiite có thể bất đồng vài vấn đề về giáo lý và một vài chi tiết nào đó về lịch sử ra đời và sự phát triển của Hồi giáo, nhưng những sự khác biệt này là nhỏ bởi vì họ nhất trí cơ bản về kinh Qu’ran và tôn kính nhà tiên tri Mohammad, người sáng lập ra đạo Hồi.

Sự phân ly của Hồi giáo bắt đầu vào năm 632 sau Công nguyên, nghĩa là ngay sau khi sáng lập ra Hồi giáo và nhà tiên tri Mohammad trước khi qua đời đã không chỉ định người kế tục. Một vài môn đồ của ông tin rằng vai trò Caliph (Khalip) hay Phó Vương của Đức Chúa Trời cần được truyền theo con đường huyết thống của Mohammad, bắt đầu bằng người họ hàng và con rể của ông – Ali ibn Abi Talib, nhưng đại đa số tín đồ lại ủng hộ người bạn của nhà tiên tri là Abu Bakr mà theo họ là người có đủ tư cách để trở thành Caliph và cho rằng người kế vị cần được bầu chọn công bằng. Ali cuối cùng trở thành Caliph thứ tư trước khi ông bị giết hại vào năm 661 sau CN bởi một người theo dị giáo gần Kufa thuộc Iraq. Việc kế vị một lần nữa lại được đem ra tranh luận và lần này đã dẫn đến một sự chia rẽ chính thức. Đại đa số tín đồ ủng hộ lời đề nghị của Mu’awiyah, người thống trị Sirya và con trai của ông Yazid. Những người ủng hộ Ali, những người cuối cùng được gọi chung là Shi’at Ali đã vận động để giành sự ủng hộ cho người con trai của ông ta là Hussein. Khi cả hai bên đụng độ ở mặt trận gần thành phố Karbala vào ngày 10 tháng 10 năm 680 sau CN, Hussein đã bị chém đầu. Thay vì bóp chết phong trào của người Shiite từ trong trứng nước, cái chết của ông đã làm cho phong trào này mang ý nghĩa “tử vì đạo”. Trong con mắt của người Shiite, Hussein là một nhân vật nhân đức và chính nghĩa, người đã đứng lên đấu tranh chống lại một kẻ áp bức hùng mạnh. Lễ tưởng niệm hàng năm ngày Hussein bị xử trảm được biết đến với cái tên Ashura là lễ thương tâm và thu hút sự chú ý nhất trong những nghi lễ của người Shiite.

Những người trung thành với Mu’awiyah và những người kế tục ông với tư cách Caliph cuối cùng được biết đến là những người Sunni, có nghĩa là những môn đồ đi theo con đường (Sunnah) của nhà tiên tri. Vì Caliph thường là người đứng đầu về phương diện chính trị của đế chế Hồi giáo đồng thời là lãnh tụ tôn giáo của đế chế này, sự bảo trợ của đế chế đã giúp cho Hồi giáo dòng Sunni trở thành dòng thống trị. Hiện nay, có khoảng 90% người Hồi giáo trên thế giới theo dòng Sunni. Những người theo dòng Shiite luôn cảm thấy bị người Sunni chèn ép, họ tiếp tục sùng kính các Imam hay những con cháu của nhà tiên tri cho đến vị Imam thứ 12 là Mohammad Al-Mahdi – người đã biến mất vào thế kỷ 9 tại nơi đặt đền thờ Samara ở Iraq. Những người Shiite theo trào lưu chính đều cho rằng Al-Mahdi đã biến mất một cách thần bí và sẽ xuất hiện vào một ngày nào đó để mở ra một triều đại của công lý.

Những người Shiite đã nhanh chóng hình thành đa số ở những khu vực mà ở đó, sau này đã trở thành những nhà nước hiện đại như Iraq, Iran, Bahrain,…Cũng có những dân tộc thiểu số quan trọng người Shiite ở những nước Hồi giáo khác, trong đó có Ả Rập Xê Út, LibanPakistan. Người Shiite đông hơn người Sunni ở những khu vực sản xuất dầu lửa chủ yếu ởTrung Đông, không chỉ ở Iran, Iraq mà còn ở cả đông Ả Rập Xê Út. Nhưng trừ Iran, người Sunni có lịch sử bám chặt quyền lực về chính trị, ngay cả ở nơi những người Shiite có lợi thế về dân số. (Ví dụ tại Syria, người Shiite nắm quyền nhưng dân số hầu hết là người Sunni). Giới cầm quyền thuộc người Sunni duy trì sự độc quyền về quyền lực của họ bằng cách không cho người Shiite tham gia quân đội và bộ máy hành chính. Trong lịch sử Hồi giáo, hầu như giới cầm quyền người Sunni đã đối xử với người Shiite như đối với tầng lớp dưới, giới hạn họ ở các công việc lao động chân tay và không chịu chia sẻ các nguồn tài nguyên quốc gia một cách công bằng.

Những người thống trị đã dùng những luận điểm tôn giáo để biện minh cho sự áp bức. Họ nói rằng người Shiite không phải là những người Hồi giáo chân chính mà là những người theo dị giáo. Cách nhìn nhận này đã trở thành định kiến nhằm tạo điều kiện thuận lợi về mặt chính trị. Người Sunni đã so sánh việc sùng kính dòng dõi huyết thống của nhà tiên tri và sự ưa thích của người Shiite đối với những chân dung của một vài vị Imam với tội sùng bái thần tượng. Những nghi lễ của người Shiite, nhất là việc tự đánh mình bằng roi trong lễ Ashura đã bị chế giễu như một nghi lễ ngoại giáo. Có người nhận xét rằng “Đối với người Shiite, sự thống trị của người Sunni giống như việc sống dưới chế độ Apacthai”.

Nhưng những Caliph người Sunni ở Bagda lại trở nên khoan dung và đôi lúc còn đóng góp cho sự phát triển của thành phố NajafKarbala như những trung tâm học vấn quan trọng nhất của người Shiite. Các giáo chủ người Shiite có thể điều hành những trường dòng và thu tiền thuế của tín đồ chừng nào mà họ vẫn kiềm chế trước sự thách thức ngang nhiên của nhóm cầm quyền. Lăng mộ của những lãnh tụ Hồi giáo người Shiite ở Najaf, Karbala, SamarraKhadamiya được phép trở thành những nơi có sức thu hút mạnh các cuộc hành hương.

Quan hệ giữa các dòng trở nên tồi tệ vào thế kỷ 16. Lúc đó, trung tâm quyền lực của người Sunni đã chuyển tới Istanbun của Thổ Nhĩ Kỳ. Khi những người thuộc đế chế Ottoman thuộc dòng Sunni ở Thổ Nhĩ Kỳ gây ra nhiều cuộc chiến tranh với những người Safavid thuộc dòng Shiite ở Ba Tư, những người Ả Rập bị mắc kẹt giữa hai bên nên đôi lúc buộc phải đứng về một phe nào đó. Những người Ốt-tô-man cuối cùng đã giành quyền kiểm soát các vùng lãnh thổ Ả Rập và thắt chặt quyền thống trị của người Sunni. Người Anh nắm quyền tiếp theo ở khu vực Trung Đông đã không làm gì để thay đổi thế cân bằng này. Trong thỏa thuận sau Đại chiến thế giới thứ nhất, họ đã chuyển giao các nhà nước mới được thành lập là IraqBahrain mà cả hai nước này đa số dân là người Shiite, cho các quốc vương là người Sunni.

Căng thẳng giữa hai cộng đồng người Hồi giáo Sunni và Shiite là một trong những nguyên nhân lớn nhất làm cho Trung Đông không bình yên trong nhiều thập kỷ qua. Tuy nhiên, nguyên nhân xung đột giữa hai dòng không phải chỉ là tôn giáo mà một nguyên nhân không kém phần quan trọng là mâu thuẫn về quyền lực và kinh tế. Sự căng thẳng hiện nay bắt nguồn từ cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran vào năm 1979 và cuộc chiến tranh Iraq năm 2003. Iran là quốc gia duy nhất mà người Shiite nắm quyền lực, cuộc Cách mạng Hồi giáo Iran đã làm thay đổi bản đồ chính trị Trung Đông. Iran muốn tạo một làn song cách mạng Hồi giáo của người Shiite sang các quốc gia trong khu vực làm cho các quốc gia ở khu vực này nghi ngờ lòng trung thành của cộng đồng Shiite với trật tự chính trị vốn có và lo sợ họ sẽ ủng hộ Iran. Sự lo sợ tiếp tục gia tăng khi chính quyền do người Shiite chiếm đa số được thành lập tại Iraq sau cuộc chiến năm 2003. Sự kiện này làm rung động sự nắm quyền từ lâu đời của các nhà lãnh đạo người Sunni tại Trung Đông.

Bahrain là một ví dụ điển hình của tình hình trên trong những cuộc biểu tình tại Trung Đông thời gian qua. Sự phân biệt giữa người Sunni và Shiite là một thực tế đáng quan tâm tại nước này. Dù người Shiite chiếm 2/3 dân số nhưng chính quyền lại nằm trong tay người Sunni. Khi các cuộc biểu tình nổ ra, chính phủ nghi ngờ lòng trung thành của cộng đồng Shiite. Trong khi đó, một bộ phận khác lại cảm thấy bị xúc phạm trước tình hình người Sunni và người Shiite chống đối nhau. Nhiều người Shiite phản ứng về sự bị phân biệt đối xử, không được tuyển vào quân đội hoặc không có khả năng nắm giữ những vị trí quan trọng trong chính phủ. Nhiều chính phủTrung Đông cũng đã từng tận dụng những xung đột vì mục đích chính trị và ủng hộ sự duy trì của chế độ hiện tại. Cựu Tổng thống Ai Cập Hosni MubarakVua Jordan đều đã từng đề cập đến sự lo sợ về “cơn sốt Shiite” từ Iraq và Iran sẽ lan rộng. Mâu thuẫn giữa hai cộng động người Sunni và Shiite không dễ giải quyết bởi nhiều nguyên nhân liên quan đến tôn giáo, chính trị, kinh tế,…và sự can thiệp từ bên ngoài.

Thánh địa Mecca [sửa]

Bài chi tiết: Thánh địa Mecca

Chú thích [sửa]

  1. ^ "Manuel d'Histoire, de Généalogie et de Chronologie de tous les Etats du Globe depuis les temps les plus reculés jusqu'à nos jours", Stokvis A.M.H.J., tr 184-186.
  2. ^ a b "Islam in Traditional China. A short history to 1800." Donald. D. Leslie, tr. 196.
  3. ^ "Trung Quốc Sử Lược". Phan Khoang.
  4. ^ "Le Prophète de l'Islam, sa vie, son oeuvre", Muhammad Hamidullah, tr. 329.
  5. ^ "Musulmans de Chine - Une anthropologie des Hui du Henan", Elisabeth Allès, tr. 31.
  6. ^ Từ điển Hán - Việt, Nhà xuất bản ngoại văn Bắc Kinh, 1994, tr. 547.
  7. ^ Từ điển Hán - Việt, Nhà xuất bản ngoại văn Bắc Kinh, 1994, tr. 780.

Tham khảo [sửa]

  • "Islam in Traditional China. A short history to 1800.", Donald D. Leslie, Canberra College of Advanced Education (CCAE), Canberra 1986.
  • "Le Prophète de l'Islam, sa vie, son oeuvre", Muhammad Hamidullah, Editions El-Najah, 6ème édition augmentée, Paris 1998.
  • "Manuel d'Histoire, de Généalogie et de Chronologie de tous les Etats du Globe depuis les temps les plus reculés jusqu'à nos jours", Stokvis A.M.H.J., Leiden, 1888-1893 (ré-édition en 1966 par B.M.Israel).
  • "Musulmans de Chine - Une anthropologie des Hui du Henan", Elisabeth Allès, Editions EHESS, Paris 2000.
  • "Trung Quốc Sử Lược", Phan Khoang, bản in lần thứ ba, Sài gòn và Huế 1958.
  • "Từ điển Hán - Việt", Nhà xuất bản ngoại văn Bắc Kinh, 1994.

Đọc thêm [sửa]

  • What Everyone Needs to Know about Islam, John L. Esposito. Oxford University Press, 2002
  • Islam: A Short History, Karen Amstrong. Modern Library, 2002

Sách và bài báo [sửa]

  • Accad, Martin (2003). “The Gospels in the Muslim Discourse of the Ninth to the Fourteenth Centuries: An Exegetical Inventorial Table (Part I)”. Islam and Christian-Muslim Relations 14 (1). ISSN 0959-6410. 
  • Adil, Hajjah Amina; Shaykh Nazim Adil Al-Haqqani, Shaykh Muhammad Hisham Kabbani (2002). Muhammad: The Messenger of Islam. Islamic Supreme Council of America. ISBN 978-1930409118. 
  • Ahmed, Akbar (1999). Islam Today: A Short Introduction to the Muslim World (ấn bản 2.00). I. B. Tauris. ISBN 978-1860642579. 
  • Armstrong, Karen (2006). Muhammad: A Prophet for our Time. HarperCollins. ISBN 006059897-2. 
  • Brockopp, Jonathan E. (2003). Islamic Ethics of Life: abortion, war and euthanasia. University of South Carolina press. ISBN 1570034710. 
  • Cohen-Mor, Dalya (2001). A Matter of Fate: The Concept of Fate in the Arab World as Reflected in Modern Arabic Literature. Oxford University Press. ISBN 0195133986. 
  • Curtis, Patricia A. (2005). A Guide to Food Laws and Regulations. Blackwell Publishing Professional. ISBN 978-0813819464. 
  • Eglash, Ron (1999). African Fractals: Modern Computing and Indigenous Design. Rutgers University Press. ISBN 0-8135-2614-0. 
  • Ernst, Carl (2004). Following Muhammad: Rethinking Islam in the Contemporary World. University of North Carolina Press. ISBN 0-8078-5577-4. 
  • Esposito, John; John Obert Voll (1996). Islam and Democracy. Oxford University Press. ISBN 0-19-510816-7. 
  • Esposito, John (1998). Islam: The Straight Path (ấn bản 3). Oxford University Press. ISBN 978-0195112344. 
  • Esposito, John; Yvonne Yazbeck Haddad (16 tháng 5 năm 2013). Muslims on the Americanization Path?. Oxford University Press. ISBN 0-19-513526-1. 
  • Esposito, John (16 tháng 5 năm 2013). Oxford History of Islam. Oxford University Press. ISBN 978-0195107999. 
  • Esposito, John (16 tháng 5 năm 2013). Unholy War: Terror in the Name of Islam. Oxford University Press. ISBN 978-0195168860. 
  • Esposito, John (16 tháng 5 năm 2013). What Everyone Needs to Know about Islam. Oxford University Press. ISBN 0-19-515713-3. 
  • Esposito, John (2003). The Oxford Dictionary of Islam. Oxford University Press. ISBN 0-19-512558-4. 
  • Esposito, John (2004). Islam: The Straight Path (ấn bản 3). Oxford University Press. ISBN 978-0195182668. 
  • Farah, Caesar (1994). Islam: Beliefs and Observances (ấn bản 5). Barron's Educational Series. ISBN 978-0812018530. 
  • Farah, Caesar (2003). Islam: Beliefs and Observances (ấn bản 7). Barron's Educational Series. ISBN 978-0764-12226-2. 
  • Firestone, Reuven (1999). Jihad: The Origin of Holy War in Islam. Oxford University Press. ISBN 019-5125800. 
  • Friedmann, Yohanan (2003). Tolerance and Coercion in Islam: Interfaith Relations in the Muslim Tradition. Cambridge University Press. ISBN 978-0521026994. 
  • Ghamidi, Javed (2001). Mizan. Dar al-Ishraq. OCLC 52901690. 
  • Goldschmidt, Jr., Arthur; Lawrence Davidson (2005). A Concise History of the Middle East (ấn bản 8). Westview Press. ISBN 978-0813342757. 
  • Griffith, Ruth Marie; Barbara Dianne Savage (2006). Women and Religion in the African Diaspora: Knowledge, Power, and Performance. Johns Hopkins University Press. ISBN 0801883709. 
  • Hawting, G. R. (2000). The First Dynasty of Islam: The Umayyad Caliphate AD 661–750. Routledge. ISBN 0415240735. 
  • Hedayetullah, Muhammad (2006). Dynamics of Islam: An Exposition. Trafford Publishing. ISBN 978-1553698425. 
  • Holt, P. M.; Bernard Lewis (16 tháng 5 năm 1977). Cambridge History of Islam, Vol. 1. Cambridge University Press. ISBN 0521291364. 
  • Holt, P. M.; Ann K. S. Lambton, Bernard Lewis (16 tháng 5 năm 1977). Cambridge History of Islam, Vol. 2. Cambridge University Press. ISBN 0521291372. 
  • Hourani, Albert; Ruthven, Malise (2003). A History of the Arab Peoples. Belknap Press; Revised edition. ISBN 978-0674010178. 
  • Humphreys, Stephen (2005). Between Memory and Desire. University of California Press. ISBN 052-0246918. 
  • Kobeisy, Ahmed Nezar (2004). Counseling American Muslims: Understanding the Faith and Helping the People. Praeger Publishers. ISBN 978-0313324727. 
  • Koprulu, Mehmed Fuad; Leiser, Gary (1992). The Origins of the Ottoman Empire. SUNY Press. ISBN 0791408191. 
  • Kramer, Martin (1987). Shi'Ism, Resistance, and Revolution. Westview Press. ISBN 978-0813304533. 
  • Kugle, Scott Alan (2006). Rebel Between Spirit And Law: Ahmad Zarruq, Sainthood, And Authority in Islam. Đại học Indiana Press. ISBN 0253347114. 
  • Lapidus, Ira (2002). A History of Islamic Societies (ấn bản 2). Cambridge University Press. ISBN 978-0521779333. 
  • Lewis, Bernard (1984). The Jews of Islam. Routledge & Kegan Paul. ISBN 0-7102-0462-0. 
  • Lewis, Bernard (1993). The Arabs in History. Oxford University Press. ISBN 0-1928-5258-2. 
  • Lewis, Bernard (1997). The Middle East. Scribner. ISBN 978-0684832807. 
  • Lewis, Bernard (2001). Islam in History: Ideas, People, and Events in the Middle East (ấn bản 2). Open Court. ISBN 978-0812695182. 
  • Lewis, Bernard (2003). What Went Wrong?: The Clash Between Islam and Modernity in the Middle East . Harper Perennial. ISBN 978-0060516055. 
  • Lewis, Bernard (2004). The Crisis of Islam: Holy War and Unholy Terror. Random House, Inc., New York. ISBN 978-0812967852. 
  • Madelung, Wilferd (1996). The Succession to Muhammad: A Study of the Early Caliphate. Cambridge University Press. ISBN 0521646960. 
  • Malik, Jamal; John R Hinnells, Inc NetLibrary (2006). Sufism in the West. Routledge. ISBN 0415274087. 
  • Menski, Werner F. (2006). Comparative Law in a Global Context: The Legal Systems of Asia and Africa. Cambridge University Press. ISBN 0521858593. 
  • Mohammad, Noor (1985). “The Doctrine of Jihad: An Introduction”. Journal of Law and Religion 3 (2): 381. doi:10.2307/1051182. 
  • Momen, Moojan (1987). An Introduction to Shi`i Islam: The History and Doctrines of Twelver Shi`ism. Yale University Press. ISBN 978-0300035315. 
  • Nasr, Seyed Muhammad (1994). Our Religions: The Seven World Religions Introduced by Preeminent Scholars from Each Tradition (Chapter 7). HarperCollins. ISBN 0-06067-700-7. 
  • Novak, David (February năm 1999). “The Mind of Maimonides”. First Things. 
  • Parrinder, Geoffrey (1971). World Religions: From Ancient History to the Present. Hamlyn Publishing Group Limited. ISBN 0-87196-129-6. 
  • Patton, Walter M. (April năm 1900). “The Doctrine of Freedom in the Korân”. The American Journal of Semitic Languages and Literatures (Brill Academic Publishers) 16 (3): 129. doi:10.1086/369367. ISBN 90-04-10314-7. 
  • Peters, F. E. (1991). “The Quest for Historical Muhammad”. International Journal of Middle East Studies. 
  • Peters, F. E. (2003). Islam: A Guide for Jews and Christians. Princeton University Press. ISBN 0-691-11553-2. 
  • Peters, Rudolph (1977). Jihad in Medieval and Modern Islam. Brill Academic Publishers. ISBN 90-04-04854-5. 
  • Rippin, Andrew (2001). Muslims: Their Religious Beliefs and Practices (ấn bản 2). Routledge. ISBN 978-0415217811. 
  • Ruthven, Malise (2005). Fundamentalism: The Search for Meaning. Oxford University Press. ISBN 01-92-80606-8. 
  • Sahas, Daniel J. (1997). John of Damascus on Islam: The Heresy of the Ishmaelites. Brill Academic Publishers. ISBN 978-9004034952. 
  • Sachedina, Abdulaziz (1998). The Just Ruler in Shi'ite Islam: The Comprehensive Authority of the Jurist in Imamite Jurisprudence. Oxford University Press US. ISBN 0195119150. 
  • Seibert, Robert F.; Daniel, Norman (1994). “Review: Islam and the West: The Making of an Image (Norman Daniel)”. Review of Religious Research 36 (1): 88. doi:10.2307/3511655. 
  • Sells, Michael Anthony; Emran Qureshi (2003). The New Crusades: Constructing the Muslim Enemy. Columbia University Press. ISBN 0231126670. 
  • Smith, Jane I. (2006). The Islamic Understanding of Death and Resurrection. Oxford University Press. ISBN 978-0195156492. 
  • Stillman, Norman (1979). The Jews of Arab Lands: A History and Source Book. Philadelphia: Jewish Publication Society of America. ISBN 1-82760-198-1. 
  • Tabatabae, Sayyid Mohammad Hosayn; Seyyed Hossein Nasr (translator) (1979). Shi'ite Islam. Suny press. ISBN 0-87395-272-3. 
  • Tabatabae, Sayyid Mohammad Hosayn; R. Campbell (translator) (2002). Islamic teachings: An Overview and a Glance at the Life of the Holy Prophet of Islam. Green Gold. ISBN 0-922817-00-6. 
  • Teece, Geoff (2003). Religion in Focus: Islam. Franklin Watts Ltd. ISBN 978-0749647964. 
  • Tolan, John V. (2002). Saracens: Islam in the Medieval European Imagination. Columbia University Press. ISBN 0231123329. 
  • Trimingham, John Spencer (1998). The Sufi Orders in Islam. Oxford University Press. ISBN 0195120582. 
  • Tritton, Arthur S. (1970) [1930]. The Caliphs and their Non-Muslim Subjects: A Critical Study of the Covenant of Umar. London: Frank Cass Publisher. ISBN 0-7146-1996-5. 
  • Turner, Colin (2006). Islam: the Basics. Routledge (UK). ISBN 041534106X. ISBN 0-415-34106-X. 
  • Turner, Bryan S. (1998). Weber and Islam. Routledge (UK). ISBN 0415174589. 
  • Waines, David (2003). An Introduction to Islam. Cambridge University Press. ISBN 0521539064. 
  • Warraq, Ibn (2000). The Quest for Historical Muhammad. Prometheus. ISBN 978-1573927871. 
  • Warraq, Ibn (2003). Leaving Islam: Apostates Speak Out. Prometheus. ISBN 1-59102-068-9. 
  • Watt, W. Montgomery (1973). The Formative Period of Islamic Thought. University Press Edinburgh. ISBN 0-85-224254-X Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  • Watt, W. Montgomery (1974). Muhammad: Prophet and Statesman . Oxford University Press. ISBN 0-19-881078-4. 
  • Weiss, Bernard G. (2002). Studies in Islamic Legal Theory. Boston: Brill Academic publishers. ISBN 9004120661. 
  • Williams, John Alden (1994). The Word of Islam. University of Texas Press. ISBN 0-292-79076-7. 
  • Williams, Mary E. (2000). The Middle East. Greenhaven Pr. ISBN 0737701331. 

Các bách khoa toàn thư [sửa]

  • William H. McNeill, Jerry H. Bentley, David Christian biên tập (2005). “Berkshire Encyclopedia of World History”. Berkshire Encyclopedia. Berkshire Publishing Group. ISBN 978-0-9743091-0-1. 
  • Gabriel Oussani biên tập (1910). Catholic Encyclopedia. 
  • Paul Lagasse, Lora Goldman, Archie Hobson, Susan R. Norton biên tập (2000). “The New Encyclopaedia Britannica, Tập 2”. The Columbia Encyclopedia (ấn bản 6). Gale Group. ISBN 978-1-59339-236-9. 
  • Encyclopaedia Britannica Online. Encyclopaedia Britannica, Inc. 
  • Erwin Fahlbusch, William Geoffrey Bromiley biên tập (2001). Encyclopedia of Christianity (ấn bản 1). Eerdmans Publishing Company, and Brill. ISBN 0-8028-2414-5. 
  • John Bowden biên tập (2005). Encyclopedia of Christianity (ấn bản 1). Oxford University Press. ISBN 0-19-522393-4. 
  • George Thomas Kurian, Graham T. T. Molitor biên tập (1995). Encyclopedia of the Future. MacMillan Reference Books. ISBN 978-0-02-897205-3. 
  • P.J. Bearman, Th. Bianquis, C.E. Bosworth, E. van Donzel, W.P. Heinrichs (biên tập). Encyclopaedia of Islam Online. Brill Academic Publishers. ISSN 1573-3912. 
  • Richard C. Martin, Said Amir Arjomand, Marcia Hermansen, Abdulkader Tayob, Rochelle Davis, John Obert Voll biên tập (2003). Encyclopedia of Islam and the Muslim World. MacMillan Reference Books. ISBN 978-0-02-865603-8. 
  • Jane Dammen McAuliffe (biên tập). Encyclopaedia of the Qur'an Online. Brill Academic Publishers. 
  • Lindsay Jones biên tập (2005). Encyclopedia of Religion (ấn bản 2). MacMillan Reference Books. ISBN 978-0-02-865733-2. 
  • Salamone Frank biên tập (2004). Encyclopedia of Religious Rites, Rituals, and Festivals (ấn bản 1). Routledge. ISBN 978-0-415-94180-8. 
  • Peter N. Stearns biên tập (2000). The Encyclopedia of World History Online (ấn bản 6). Bartleby. 
  • Josef W. Meri biên tập (2005). Medieval Islamic Civilization: An Encyclopedia. Routledge. ISBN 0-415-96690-6. 
  • Wendy Doniger biên tập (1999). Merriam-Webster's Encyclopedia of World Religions. Merriam-Webster. ISBN 0-87779-044-2. 
  • Glasse Cyril biên tập (2003). New Encyclopedia of Islam: A Revised Edition of the Concise Encyclopedia of Islam. AltaMira Press. ISSN 978-0759101906. 
  • Edward Craig biên tập (1998). Routledge Encyclopedia of Philosophy (ấn bản 1). Routledge. ISBN 978-0-415-07310-3. 

Tham khảo [sửa]

Liên kết ngoài [sửa]