Hồng hoàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Hồng hoàng
Buceros bicornis (female) -in tree-8.jpg
Hồng hoàng mái
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Aves
Bộ (ordo) Coraciiformes
Họ (familia) Bucerotidae
Chi (genus) Buceros
Loài (species) B. bicornis
Danh pháp hai phần
Buceros bicornis
L., 1758

Hồng hoàng hay phượng hoàng đất (danh pháp hai phần: Buceros bicornis) là thành viên to lớn nhất trong họ Hồng hoàng (Bucerotidae). Hồng hoàng sinh sống trong các khu rừng của Ấn Độ, Đông Nam Á và miền nam Trung Quốc. Kích thước to lớn và màu sắc đầy ấn tượng của chúng đã góp phần làm cho chúng trở thành một phần trong văn hóa và nghi lễ của một số các bộ lạc địa phương. Hồng hoàng sống khá thọ với tuổi thọ đạt tới 50 năm trong điều kiện nuôi nhốt.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng hoàng là loài chim lớn, có thể dài tới 95–120 cm (38-47 inch), với sải cánh dài tới 152 cm (60 inch) và cân nặng 2,15–4 kg (4,7-8,8 lb). Đặc trưng nổi bật nhất của hồng hoàng là phần mũ mỏ màu vàng tươi và đen trên đỉnh chiếc mỏ lớn của nó. Mũ mỏ rỗng và chưa rõ mục đích để làm gì mặc dù người ta tin rằng nó là kết quả của chọn lọc giới tính[1] Hồng hoàng mái nhỏ hơn và có mắt màu xanh lam thay vì mắt đỏ. Hồng hoàng trống rỉa lông để bôi chất nhờn màu vàng vào lông cánh sơ cấp cũng như mỏ để làm cho chúng có màu vàng tươi[2][3].

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tự nhiên, thức ăn của hồng hoàng chủ yếu là các loại quả. Nó cũng ăn cả các loài thú, chim, thằn lằn rắn và côn trùng nhỏ.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Hồng hoàng mái làm tổ trong lỗ rỗng trên thân các cây lớn và miệng tổ được bịt bằng một lớp trát bằng phân[4]. Nó tự giam mình trong tổ cho tới khi chim non phát triển tương đối, dựa trên thức ăn cho chim trống đem về thông qua khe nứt trong lớp trát. Trong thời kỳ này chim mái trải qua thời kỳ rụng lông hoàn toàn. Mỗi lứa đẻ gồm 1 tới 2 trứng và được ấp trong 38-40 ngày.

Hồng hoàng tạo thành các cặp một vợ một chồng nhưng sống thành bầy từ 2-40 cá thể.

Trong văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Một người đàn ông bộ lạc Nishi (Arunachal Pradesh, Ấn Độ) đội chiếc mũ truyền thống với mỏ hồng hạc.

Một số bộ lạc địa phương là nguồn đe dọa đối với hồng hoàng do họ săn bắt hồng hoàng vì một số bộ phận khác nhau của chúng. Máu của chim non được cho là có tác dụng an ủi đối với những linh hồn quá cố và trước hôn lễ, những người đàn ông của một số bộ lạc tại Ấn Độ sử dụng lông của chúng để làm mũ đội đầu, còn đầu hồng hoàng cũng hay bị dùng làm vật trang trí.

Con hồng hoàng có tên gọi William (xem hình dưới đây) là biểu tượng của Hiệp hội Lịch sử Tự nhiên Bombay. Norman Kinnear đã miêu tả về William như sau:

Every visitor to the Society's room in Apollo Street will remember the great Indian Hornbill, better known as the "office canary" which lived in a cage behind Millard's chair in Phipson & Co.'s office for 26 years and died năm 1920. It is said its death was caused by swallowing a piece of wire, but in the past "William" had swallowed a lighted cigar without ill effects and I for my part think that the loss of his old friend was the principal cause.[5].

Nuôi nhốt[sửa | sửa mã nguồn]

Hình nghiêng (bởi E. Comber, 1897) của con hồng hoàng có tên là "William", đã sống trong tòa nhà của Hiệp hội Lịch sử Tự nhiên Bombay từ năm 1894 tới năm 1920 và sau này là nguồn cảm hứng cho logo của hiệp hội này.
Hồng hoàng tại Vườn quốc gia Khao Yai, Thái Lan.

Khoảng 60 con hồng hoàng hiện tại bị nuôi nhốt tại Hoa Kỳ và ít hơn tại một số quốc gia khác. Trong khi việc nuôi dưỡng chúng cũng như cung cấp thức ăn ít gặp khó khăn thì việc nhân giống chúng là rất khó khăn với rất ít ý định đã thành công.

Trong nuôi nhốt, hồng hoàng ăn quả và thịt. Một số ít hồng hoàng đã thuần hóa trong nuôi nhốt nhưng hành vi của chúng được miêu tả như là căng thẳng.

Hồng hoàng là chim biểu tượng của bang KeralaẤn Độ.

Tình trạng bảo tồn[sửa | sửa mã nguồn]

Do việc mất trường sống đang diễn ra cũng như bị săn bắn ở một số nơi nên hồng hoàng được đánh giá là gần (cận) nguy cấp trong sách đỏ của IUCN về các loài nguy cấp[6]. Nó được liệt kê trong Phụ lục I của CITES.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ramans T. R. Shankar (1998) Aerial casque-butting in the Great Hornbill Buceros bicornis. Forktail 13 PDF
  2. ^ Ali Salim (tái bản 2004) Birding in Travancore: Stray impressions of a rambling ornithologist. Hornbill Oct-Dec):4
  3. ^ Kemp A. C. 2001. Family Bucerotidae (hornbills). Trang 436–523 trong J. del Hoyo, A. Elliott, J. Sargatal (chủ biên). Handbook of the birds of the world. Quyển 6. Mousebirds to hornbills. Lynx, Barcelona.
  4. ^ James D.A., Kannan R. (2007) Wild Great Hornbills (Buceros bicornis) do not use mud to seal nest cavities. Wilson Journal of Ornithology 119 (1):118-121
  5. ^ Kinnear N. B. 1952. "W. S. Millard" Tạp chí của Bombay Nat. Hist. Soc. 50:910-913.
  6. ^ BirdLife International (2004). Buceros bicornis. Sách đỏ 2006. IUCN 2006. Truy cập 11-5-2006. Mục từ trong CSDL bao gồm cả diễn giải ngắn tại sao loài này được đánh giá là cận nguy cấp

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]