Hội nghị Paris, mặt trận ngoại giao năm 1972

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Đức Thọ và Henry Kissinger sau khi ký tắt Hiệp định Paris 1973; người đứng giữa là thư ký Lưu Văn Lợi

Hội nghị Paris về Việt Nam kết thúc với việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 đã buộc Mỹ phải rút khỏi Việt Nam và mở đường cho sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hoà. Đây là kết quả của gần 5 năm đàm phán, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp Thế giới.

Chiến cục năm 1972 tại Việt Nam không phải là ngoại lệ với tình trạng "vừa đánh, vừa đàm". Lịch sử thế giới đã từng chứng kiến những điều tương tự xảy ra trong cuộc chinh phạt Châu Âu của Napoleon (1799-1815), ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông của nhà Trần (thế kỷ XIII), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (đầu thế kỷ XV). Nhưng ở thời điểm năm 1972, khi các bên đã bước vào một cuộc đua nước rút nhằm biến kết quả về quân sự trên chiến trường thành kết quả chính trị-ngoại giao được ghi nhận bằng một hiệp định. Chính vì vậy, có thể coi Hội nghị Paris không chỉ là cuộc đàm phán thông thường mà còn là một "cuộc chiến không tiếng súng" của các nhà ngoại giao các bên; có ảnh hưởng rất lớn tới những kết quả cuối cùng của chiến cục năm 1972 cũng như đến toàn bộ cuộc Chiến tranh Việt Nam.[1]. Phía Việt Nam dân chủ cộng hòa coi Hội nghị Paris không chỉ là các cuộc đàm phán ngoại giao thông thường mà còn là một mặt trận. Mặt trận ấy không chỉ có ý nghĩa tuyên truyền cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của người Việt Nam mà còn đem lại sự xác nhận những kết quả của các cuộc đấu tranh vũ trang và chính trị trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Theo đánh giá của phía Việt Nam dân chủ cộng hòa thì:

Đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị ở miền Nam là yếu tố quyết định để giành thắng lợi trên chiến trường và là cơ sở cho thắng lợi của đấu tranh ngoại giao. Chúng ta chỉ có thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán những gì mà chúng ta giành được trên chiến trường. Tuy nhiên, đấu tranh ngoại giao không đơn thuần chỉ là phản ánh của tình hình chiến trường, mà trong bối cảnh quốc tế hiện nay và do tính chất của cuộc chiến tranh, đấu tranh ngoại giao còn đóng một vai trò quan trọng, tích cực và chủ động

—Kết luận của Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 13-Khoá III, .[2]

Loạt bài
Chiến tranh Việt Nam
Giai đoạn 1954–1959
Thuyết Domino
Hoa Kỳ can thiệp
Miền Bắc – Miền Nam
Giai đoạn 1960–1965
Diễn biến Quốc tế – Miền Nam
Kế hoạch Staley-Taylor
Chiến tranh đặc biệt
Đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm
Giai đoạn 1965–1968
Miền Bắc

Chiến dịch:
Sự kiện Vịnh Bắc Bộ
Mũi Tên Xuyên –Sấm Rền

Miền Nam

Chiến tranh cục bộ
Chiến dịch:
Các chiến dịch Tìm-Diệt
Phượng Hoàng –Tết Mậu Thân, 1968

Diễn biến Quốc tế
Giai đoạn 1968–1972
Diễn biến Quốc tế
Việt Nam hóa chiến tranh
Hội nghị Paris
Hiệp định Paris
Chiến dịch:
Lam Sơn 719 – Chiến cục năm 1972 –
Hè 1972 –Mặt trận phòng không 1972 
Phòng không Hà Nội 12 ngày đêm
Giai đoạn 1973–1975
Chiến dịch:
Xuân 1975
Phước Long
Tây Nguyên  -Huế - Đà Nẵng
Phan Rang - Xuân Lộc
Hồ Chí Minh
Trường Sa và các đảo trên Biển Đông
Sự kiện 30 tháng 4, 1975
Hậu quả chiến tranh
Tổn thất nhân mạng
Tội ác của Hoa Kỳ và đồng minh
Chất độc da cam
Thuyền nhân
sửatiêu bản


Kết quả quân sự của Chiến cục ở Việt Nam năm 1972 được ghi nhận tại các điểm b và c, Điều 3, Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam có ý nghĩa như một bước ngoặt lớn không chỉ đối với người Việt Nam mà còn đối với cả thế giới, trước hết là ba cường quốc: Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Quốc. Nhà sử học Nga Ilya V. Gaiduk nhận xét: Đối với Moskva, sự chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đánh dấu một giai đoạn mới trong chính sách đối ngoại của họ... chướng ngại vật đáng kể trên lộ trình hòa giải với phương Tây đã bị loại bỏ. Điều đó còn bao hàm một sự mềm dẻo hơn trong chính sách đối ngoại của Liên Xô đối với Trung Quốc... Xét về khía cạnh này, Chiến tranh Việt Nam là một bước ngoặt trong sự phát triển quan hệ quốc tế sau năm 1945 và là một phần mở đầu cho hai thập kỷ cuối của lịch sử Chiến tranh Lạnh.[3] Ngạn ngữ Hy Lạp có câu: có lúc ném đá đi và có lúc phải nhặt đá về, có lúc ôm nhau và có lúc phải buông nhau ra.[4]. Giống như các cuộc xung đột quân sự trên chiến trường đã kéo dài đến năm thứ 18, các bên tham chiến đều thấy rằng đã đến lúc phải đi đến một kết quả nhất định được đánh dấu bằng những thỏa thuận chính trị-ngoại giao được ghi nhận theo trình tự của công pháp quốc tế. Tại buổi gặp riêng lần thứ 15 ngày 1 tháng 8 năm 1972 tại nhà riêng của đoàn Việt Nam tại phố Darthé (Paris), Kissinger đề nghị: "Chúng tôi đồng ý cần giải quyết vấn đề chính trị và vấn đề quân sự cùng với nhau".[5] Ông đã đưa ra một đề nghị mới gồm 12 điểm và cam đoan rằng Hoa Kỳ sẽ tôn trọng mọi sự thảo thuận không những về tinh thần mà còn cả về lời văn. Với cố gắng san lấp hố ngăn cách giữa những bất đồng của hai bên, Hoa Kỳ chấp nhận hình thức căn bản đề nghị bảy điểm và hai điểm nói rõ thêm của phía Việt Nam; đồng thời sẵn sàng bảo đảm với các đồng minh của Việt Nam, gắn mối quan hệ quan trọng của Hoa Kỳ với Liên Xô và Trung Quốc vào thiện chí của Hoa Kỳ ở Việt Nam.[6]. Trong cuộc gặp riêng ngày 15 tháng 9 năm 1972; Lê Đức Thọ nêu một câu hỏi: "Ông có sẵn sàng đạt được một hiệp định về nguyên tắc đến một thời hạn nào đó không?". Kissinger trả lời: "Tôi thấy rằng không có điều gì bất lợi để ấn định một thời hạn cuối cùng trong lúc mà chúng ta chưa đưa thêm nhận nhượng nào".[5] Hai bên hẹn gặp lại vào ngày 26 và 27 tháng 9. Và đến ngày 8 tháng 10, phía Việt Nam đưa ra bản dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam".

Công khai các cuộc gặp bí mật[sửa | sửa mã nguồn]

Trước tháng 1 năm 1972, các cuộc đàm phán Việt Nam - Hoa Kỳ tại Paris luôn có hai trạng thái. Trạng thái công khai đối với các cuộc đàm phán bốn bên: đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa (do Xuân Thuỷ dẫn đầu), đoàn Hoa Kỳ (do W. Averell Harriman rồi đến Henry Cabot Lodge dẫn đầu), đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (do Nguyễn Thị Bình dẫn đầu) và đoàn Việt Nam Cộng hòa (do Trần Văn Lắm dẫn đầu); trạng thái bí mật đối với các cuộc "gặp riêng" giữa đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa do Lê Đức Thọ dẫn đầu với đoàn Hoa Kỳ do Henry Kissinger dẫn đầu. Kết quả các cuộc gặp bốn bên được các bên công bố công khai trong các cuộc họp báo riêng rẽ. Kết quả các cuộc gặp bí mật chỉ được công bố khi có sự đồng thuận của cả hai bên. Thực tế diễn biến các cuộc đàm phán cho thấy chính các cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ - Kissinger đóng vai trò quyết định trên mặt trận ngoại giao này.

Trong cuộc gặp riêng ngày 11 tháng 10 năm 1971, đoàn Hoa Kỳ đưa ra đề nghị tám điểm; trong đó có một số điểm mới: đề nghị một thời hạn rút quân trong bảy tháng (phụ thuộc vào thời điểm ký kết hiệp định); tổ chức tuyển cử tự do và dân chủ bầu tổng thống và phó tổng thống Việt Nam Cộng hòa, các tổng thống và phó tổng thống đương quyền sẽ từ chức trước thời điểm bầu cử một tháng, một cơ quan độc lập bao gồm đại diện các lực lượng chính trị ở miền Nam tham gia sẽ chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử có sự giám sát quốc tế. Những điểm quan trọng mà phía Hoa Kỳ giữ nguyên lập trường là: Việt Nam dân chủ cộng hòa phải rút quân khỏi LàoCampuchia, chính quyền mới phải được tổ chức trên cơ sở hiến pháp của Việt Nam Cộng hòa[5]. Cũng trong tháng 10 năm 1972, Hà Nội đón Chủ tịch Xô viết tối cao Liên Xô Nikolai Podgorny, ông này gợi ý phía Việt Nam dân chủ cộng hòa nên cứu xét đề nghị trên của Hoa Kỳ. Ngày 20 tháng 11 năm 1971, tại Bắc Kinh Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai khuyên Thủ tướng Việt Nam dân chủ cộng hòa Phạm Văn Đồng: "Việt Nam nên tranh thủ thời cơ giải quyết trước vấn đề rút quân Mỹ và quan tâm giải quyết vấn đề tù binh Mỹ, việc đánh đổ ngụy quyền Sài Gòn là vấn đề lâu dài"[7].

Nhận thấy Hoa Kỳ chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự, lấy lại tù binh và không muốn giải quyết toàn bộ các vấn đề chính trị-quân sự-ngoại giao ở miền Nam Việt Nam cũng như chưa nắm được thực chất ý đồ của Hoa Kỳ khi tung ra đề nghị này, phía Việt Nam dân chủ cộng hòa chưa vội đưa ra phản đề nghị. Đoàn đàm phán VNDCCH ở Paris nhận được chỉ thị chỉ nên giải quyết vấn đề trước xuân-hè 1972 nếu đối phương chấp nhận một giải pháp phù hợp với yêu cầu (của phía VNDCCH); nếu không, hãy đợi đến "sau khi thực hiện ý đồ chiến lược của ta trên chiến trường"[6].

Mặc dù phía VNDCCH chỉ chưa trả lời chứ không phản bác nhưng ngày 25 tháng 1 năm 1972, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã họp báo, công bố nội dung các cuộc gặp riêng giữa Việt Nam dân chủ cộng hòa và Hoa Kỳ từ năm 1969 đến năm 1971, quy kết cho phía Việt Nam dân chủ cộng hòa đã bác bỏ mọi đề nghị của Hoa Kỳ, đòi loại bỏ Nguyễn Văn Thiệu và chuẩn bị các hoạt động tấn công quân sự[8]. Phía VNDCCH nhận định đây là đòn tấn công ngoại giao đầu tiên của Nixon trong năm 1972 với ba mục tiêu:

  • Chứng minh cho nhân dân và phe đối lập ở Hoa Kỳ thấy rằng ông ta đã đi trước một bước trong việc tìm kiếm giải pháp hòa bình và chấm dứt sự dính líu quan sự của Hoa Kỳ vào vấn đề miền Nam Việt Nam.
  • Mở đường dư luận có lợi cho các chuyến công du của Hoa Kỳ tới Trung Quốc và Liên Xô trong năm 1972 với mục đích lập lại thế cân bằng chiến lược toàn cầu nói chung và ở Đông Nam Á nói riêng thông qua các thỏa thuận về hạn chế vũ khí chiến lược giai đoạn I (SALT I) với Liên Xô và các vấn đề xung đột ở Đông Nam Á, vấn đề Đài Loan với Trung Quốc.
  • Chuẩn bị dư luận có lợi cho Đảng Cộng hòa mà chính Nixon là ứng cử viên số 1 của đảng này trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ lần thứ 38 sẽ diễn ra vào đầu tháng 11 năm 1972[6].

Những động thái trên đây của phía Hoa Kỳ chỉ có tác dụng trong vòng một tuần vì không giải quyết được mâu thuẫn cốt yếu: Rút quân nhưng tiếp tục bảo hộ cho Nguyễn Văn Thiệu, không xác định được thời hạn chấm dứt chiến tranh và do đó, không mở ra được hy vọng đưa tù binh Mỹ trở về nhà[6].

Đến ngày 31 tháng 1, đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa không đưa ra phản đề nghị mà cho công bố dự thảo giải pháp chín điểm (đã được trao cho Kissinger ngày 26 tháng 6 năm 1971) như một biện pháp trả đũa đồng thời phản đối Nhà Trắng đã vi phạm thỏa thuận không công bố công khai các cuộc gặp riêng. Ngày 2 tháng 2, đoàn Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam giải thích hai điểm quan trọng trong lập trường bảy điểm của họ (đã đưa ra ngày 1 tháng 7 năm 1971), trong đó có những nhượng bộ đáng kể:

  • Nếu Hoa Kỳ xác định được thời hạn rút Quân đội Hoa Kỳ và các đồng minh khỏi miền Nam Việt Nam thì thời diểm rút hết quân sẽ là thời điểm bắt đầu trao trả tù binh của các bên (nghĩa là không cần chờ đến khi hiệp định được ký kết).
  • Không yêu cầu thay đổi chính thể hiện hữu ở miền Nam Việt Nam mà chỉ yêu cầu Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức ngay. Đồng thời, chính thể này phải thay đổi chính sách: chấm dứt bình định, giải tán các trại tập trung, chấm dứt khủng bố dân chúng, thả các tù chính trị, bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ của dân chúng như Hiệp định Genève đã quy định năm 1954[9]

Đề nghị trên đây đã được Thượng nghị sĩ Edmund Muski, ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ 38 hưởng ứng. Những đòi hỏi về việc rút quân Mỹ về nước và chấm dứt viện trợ chiến tranh cho chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trở thành chủ đề thường xuyên của phe đối lập tại Hạ nghị việnThượng nghị viện Hoa Kỳ trong suốt năm 1972[6].

Chuyển sang chiến lược hòa bình[sửa | sửa mã nguồn]

Dò dẫm để xích lại gần nhau[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả các chuyến đi thăm của Nixon đến Trung Quốc (tháng 2 năm 1972) và Liên Xô (tháng 5 năm 1972) có một số thỏa thuận song phương Trung-Mỹ và Xô-Mỹ bất lợi cho phía Việt Nam. Đối với Trung Quốc, họ đã gắn vấn đề Đài Loan với vấn đề khu vực Đông Nam Á như một thỏa thuận không chính thức. Henry Kisinger nhận xét: "Trung Quốc đã mở ra một mặt trận chung bằng một hiệp ước ngầm, không xâm lược với chúng ta"; "mối bất hòa giữa Hoa Kỳ và nước Trung Hoa mới đã chấm dứt. Nhiệm vụ hiện nay của hai bên là phải đối phó với khát vọng bá quyền" (ám chỉ Liên Xô); "Hai bên tìm kiếm sự hợp tác không phải thông qua một hiệp nghị chính thức mà bằng điều hòa một cách nhịp nhàng những sự thông cảm của nhau trong các vấn đề quốc tế có lợi ích của hai bên"; "Tùy tình hình căng thẳng trong khu vực này giảm đi, Hoa Kỳ sẽ dần dần giảm lực lượng và cơ sở quân sự của mình tại Đài Loan"[5]. Đạt được thành công ngoại giao ở Bắc Kinh, Nixon hài lòng và tiếp tục cuộc công du Liên Xô vào tháng 5 năm 1972 với mục tiêu: "Nhìn về phía Moskva dể nghiền nát Việt Nam"[8]. Tại đây, Nixon cũng nhận được tín hiệu về việc "người Xô Viết đã không đáp ứng yêu cầu mới nào về trang bị của Bắc Việt Nam" theo như báo cáo của Kissinger.[8]

Sau khi được các đồng minh thông báo về kết quả các cuộc đàm phán Xô-Mỹ và Trung-Mỹ (đương nhiên, không phải là tất cả), Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam nhận thấy: Tuy Cục diện chiến trường đã có một hình thái mới có lợi cho Việt Nam và tạo điều kiện cho cách mạng Việt Nam phát triển vững chắc sau này nhưng thắng lợi đó (chỉ kết quả Chiến cục năm 1972) chưa thật sự căn bản. Để ép Việt Nam đi vào giải pháp có lợi cho Hoa Kỳ, năm 1972, Nixon đã đi thăm Trung Quốc và Liên Xô nhằm tranh thủ hai nước này giảm bớt viện trợ cho Việt Nam xuống mức thấp nhất nhằm ngăn chặn Quân đội nhân dân Việt Nam đánh mạnh ở miền Nam. Nixon đã đi Trung Quốc thì Liên Xô cũng phải mời Nixon sang để Nixon không hợp tác quá sâu với Trung Quốc chống lại Liên Xô. Đó là mấu chốt của vấn đề[10]. Trong cuộc trả lời phỏng vấn của nhà báo Anthony Lewis, phóng viên tờ New York Time diễn ra ngày 23 tháng 5 năm 1972, Ngoại trưởng Việt nam dân chủ cộng hòa Nguyễn Duy Trinh không trả lời cụ thể về quan hệ của Liên Xô và Trung Quốc đối với Việt Nam nhưng đã chỉ ra con đường duy nhất để cứu vãn danh dự của Hoa Kỳ là chấm dứt chiến tranh, tôn trọng các quyền dân tộc của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; bằng cách đó, Hoa Kỳ có thể bảo đảm an toàn cho quân nhân Mỹ, đưa hết quân nhân Mỹ - kể cả những người bị bắt - về nước. Ông cũng cho rằng đại dương bao la không ngăn cản nhân dân hai nước (Việt Nam và Hoa Kỳ) cùng chung lý tưởng cao cả độc lập và tự do[11]. Ngày 21 tháng 6, Nguyễn Duy Trinh gửi thư cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong đó có nhận định: "Trong mấy tháng tới, Việt Nam có khả năng buộc Mỹ chấp nhận một giải pháp vững chắc; đồng thời vẫn nên chuẩn bị cho khả năng chiến tranh kéo dài sau năm 1972".[12].

Phía Hoa Kỳ cũng có những động thái tích cực hơn do phải giải quyết những vấn đề của họ. Một phần do sự cam kết của họ với Liên Xô, Trung Quốc về chấm dứt sự dính líu trực tiếp về quân sự của Hoa Kỳ vào Việt Nam mà vẫn duy trì được Việt Nam Cộng hòa. Sau đó là giữ lời hứa của Nixon với chính nhân dân Mỹ trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1968 về việc sẽ đi đến một hiệp định hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đưa quân nhân Mỹ (kể cả tù binh) về nước. Một phần do sự thúc ép của chiến dịch tranh cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 38 mà Nixon đang hy vọng tái cử.

Trong cuộc gặp riêng ngày 2 tháng 5, phía Hoa Kỳ đã đáp ứng một yêu cầu cơ bản của phía VNDCCH là không đòi rút QĐNDVN khỏi miền Nam nhưng vẫn duy trì chính thể VNCH trong một giải pháp hòa bình, hòa giải quốc gia. Để đổi lại, phía VNDCCH cũng rút đề nghị yêu cầu giải tán chính quyền VNCH nhưng chính quyền này phải thay đổi chính sách chống VNDCCH và trong thời hạn nhất định phải tổ chức bầu cử dân chủ ở miền Nam với sự tham gia của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam và lực lượng chính trị thứ ba với phương châm hòa bình, hòa hợp dân tộc. Mặc dù có một số điểm nhất trí cơ bản đã đạt được và nhiều điểm còn cách xa nhau nhưng đến cuộc gặp riêng ngày 19 tháng 7, các đoàn VNDCCH và đoàn Hoa Kỳ đều đưa ra được tuyên bố về chính sách chung trong khi bom đạn vẫn nổ rền trên các chiến trường.[6]

Những trở ngại không mới[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Nội đánh giá tuyên bố của Kissinger ngày 19 tháng 7 về chính sách của Hoa Kỳ là có ý nghĩa tạo chuyển biến với thái độ mềm dẻo hơn và nhưng về cơ bản, tuyên bố đó vẫn lặp lại đề nghị ngày 2 tháng 5 ở điểm quan trọng nhất: tách vấn đề quân sự khỏi vấn đề chính trị. Lê Đức Thọ cho rằng chưa đủ căn cứ để kết luận: "khả năng Hoa Kỳ đi vào giải quyết với giá phải chăng là không nhiều".[6].

Phía Hoa Kỳ cũng có những vấn đề không nhất quán giữa các bên. Tổng thống Nixon muốn thông tin về các cuộc gặp riêng đến được giới báo chí để ông ta có thể khuếch trương các hoạt động tranh cử. Trong khi đó, Kissinger muốn vươn tới thực chất vấn đề vì ông ta nhận thấy rằng càng kéo dài đàm phán để đi đến một hiệp định bao nhiêu thì càng ít khả năng để tác động đến các sự kiện quân sự bấy nhiêu nếu như không đạt được một hiệp định hòa bình. Trong khi đó thì Nguyễn Văn Thiệu tiếp tục có những hành động gây bất lợi cho đàm phán. Bức thư ngày 31 tháng 8 của Nixon gửi cho Nguyễn Văn Thiệu với cam kết Hoa Kỳ không thể "mua bán hòa bình hoặc danh dự hoặc bù lại những hy sinh của mình bằng cái giá bỏ một đồng minh dũng cảm" và vài lời khích lệ đối với "vai trò lãnh đạo thực sự" của Nguyễn Văn Thiệu đã làm ông ta tin rằng Hoa Kỳ phải phụ thuộc vào mình. Ông ta đã ra lệnh thiết quân luật toàn lãnh thổ từ ngày 26 tháng 7 và tuyên bố rộng rãi lập trường bốn không: "Không thương lượng với kẻ thù", "không có hoạt động cộng sản ở miền Nam", "không chính phủ liên hiệp", "không mất lãnh thổ cho kẻ thù".[13] Kissinger cho rằng Nguyễn Văn Thiệu "không sẵn sàng cho một nền hòa bình thương lượng" mà muốn "một sự đầu hàng không điều kiện" của đối phương. Chính sự cứng nhắc đó của Nguyễn Văn Thiệu đã làm cho phái đoàn Hoa Kỳ trở nên khó xử và đàm phán lại bế tắc. Ngày 1 tháng 8, khi nhận được phản ứng của Lê Đức Thọ về chính sách đàn áp mới của Nguyễn Văn Thiệu dẫn đến việc có hơn 3.300 thường dân bị bắt ở đồng bằng, riêng ở Đà Nẵng là 600 người và phía Hoa Kỳ có thái độ tiêu cực trong đàm phán thì Kissinger phải thừa nhận:

Ít nhất là một lần, lời tố cáo của ông ta rằng tôi không đưa ra "điều gì mới" cả, là chính xác.

—Henry Kissinger, [13]

Cuộc chạy đua của các sáng kiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tiến triển của cuộc đàm phán giai đoạn này thể hiện ở việc các bên đã hạn chế sử dụng công thức "đề nghị" - "phản đề nghị" và đưa ra các chính sách của mình để cùng thảo luận. Thay vào đó, các bên lần lượt đưa ra các tuyên bố về chính sách hoặc các sáng kiến mà bên nào cũng cho rằng điều mình đưa ra là ưu việt nhất. Trong tháng 8, khi cuộc vận động bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ chuẩn bị bước vào giai đoạn sôi động nhất thì tại Paris, hai bên liên tiếp đưa ra các chính sách và các sửa đổi của mình nhưng vẫn ở trạng thái thăm dò mà mặc cả. Ngày 1 tháng 8, đoàn Hoa Kỳ đưa ra chính sách 12 điểm, trong đó có sự "đồng ý giải quyết vấn đề quân sự và vấn để chính trị cùng với nhau". Kissinger còn gợi ý: Nếu chúng ta thỏa thuận đựợc với nhau trước ngày 1 tháng 9 thì binh sĩ Hoa Kỳ cuối cùng sẽ rời khỏi Việt Nam trước cuối năm nay.[5] Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra chính sách 10 điểm với phương án cao hơn, đòi Hoa Kỳ rút hết trong vòng một tháng và có một điểm mới là thành lập ngay chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần, có đủ quyền đối nội đối ngoại, giải tán hai chính quyền hiện có (kể cả Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam); không đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngay mà từ chức sau khi ký hiệp định toàn bộ. Đoàn Việt Nam cũng đề nghị mở bốn diễn đàn: Hoa Kỳ - Việt Nam dân chủ cộng hòa (để giải quyết các vấn đề quân sự và chính trị có tính nguyên tắc); Chính phủ cách mạng lâm thời và Việt Nam cộng hòa (để giải quyết những vấn đề cụ thể về quân sự và chính trị ở miền Nam trên cơ sở các nguyên tắc đã được Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa nhất trí); diễn đàn ba bên Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ cách mạng lâm thời và Việt Nam cộng hòa (để giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến hai miền); và diễn đàn bốn bên (để giải quyết những vấn đề liên quan đến cả bốn bên).[6] Phía Hoa Kỳ đồng ý mở bốn diễn đàn nhưng theo lộ trình "hai gói": "gói thứ nhất" giải quyết trước các vấn đề nguyên tắc giữa Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa, ký kết hiệp định trước; "gói thứ hai" giải quyết các vấn đề cụ thể theo kết quả của gói thứ nhất.[5]

Tại cuộc gặp riêng ngày 14 tháng 8, Kissingerr đưa ra tuyên bố về chính sách của phía Hoa Kỳ, kèm theo một đề nghị 10 điểm và một văn bản về cách thức thương lượng. Lê Đức Thọ nhận thấy trong đề nghị 10 điểm của phía Hoa Kỳ có 5 điểm tương đối nhất trí với phía Việt Nam:

  • Rút khỏi Việt Nam toàn bộ quân đội Hoa Kỳ và các đồng minh của Hoa Kỳ;
  • Việc thống nhất Việt Nam do Nam và Bắc Việt Nam quyết định;
  • Tôn trọng các Hiệp định Giơ ne vơ 1954 và 1962;
  • Đông Dương là khu vực hòa bình, độc lập và trung lập;
  • Ngừng bắn tại chỗ có giám sát quốc tế, kiểm soát quốc tế.[6]

Các điểm mà hai bên còn có nhận thức khác nhau gồm:

  • Không xác định được thời hạn rút quân đội Hoa Kỳ và đồng minh;
  • Vấn đề viện trợ quân sự cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa;
  • Các vấn đề chính trị có liên quan như: vai trò của Nguyễn Văn Thiệu và việc thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần. Theo Kissinger, các lực lượng chính trị ở Nam Việt Nam chỉ có hai thành phần rưỡi vì lực lượng thứ ba không thể đặt ngang hàng với chính quyền Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời.[5]
  • Hoa Kỳ không cam kết bồi thường chiến tranh nhưng sẵn sàng nhận thấy cần có một chương trình tái thiết cho toàn Đông Dương.[6]

Phía VNDCCH không nhất trí với lộ trình đàm phán "hai gói" của Hoa Kỳ. Họ cho rằng việc vạch ra hai bước này là để duy trì chế độ hiện hành ở miền Nam Việt Nam với đầy đủ bộ máy đàn áp trong tay. Trong như vậy điều kiện như vậy, cơ quan độc lập để tổ chức bầu cử sẽ bị vô hiệu hoá và vấn đề tự do dân chủ sẽ chỉ còn là hình thức. Lê Đức Thọ kết luận: "Hoa Kỳ không thể dùng đàm phán để làm một việc mà lực lượng quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ mười năm qua đã không làm được".[6]. Ông cho rằng cuộc gặp lần này lập trường hai bên còn cách xa nhau, đặc biệt là về các vấn đề chính trị vì các bên mới tỏ thiện chí chứ có kết quả cơ bản hay tiến bộ rõ rệt như phía Hoa Kỳ đánh giá. Kissinger nhìn nhận Lê Đức Thọ đã đưa ra nhiều đề nghị khá nghiêm túc nhưng lại phàn nàn rằng kế hoạch của Hoa Kỳ đã bị những đề nghị của Lê Đức Thọ làm cho lỗi thời và vô hiệu. Còn Richard Nixon thì cho rằng cuộc gặp này "không có tiến bộ nào" và "sự lui bước đáng thất vọng trong thương lượng mà Kissinger thực hiện có thể sẽ phương hại đến các vấn đề chính trị".[5] Hai bên thỏa thuận ngày 15 tháng 9 sẽ gặp lại.

Bước đột phá và một dự thảo hiệp định bị khước từ[sửa | sửa mã nguồn]

Thời điểm chín muồi[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận thấy những cuộc thăm dò đã có một số kết quả tuy chưa rõ ràng, phía Việt Nam chuẩn bị cho cuộc gặp riêng thứ 17 với phương án mềm dẻo hơn nhằm tăng khả năng giải quyết với phía Hoa Kỳ trước cuộc bầu cử tổng thống của họ. Mặt khác, Hà Nội cũng chứng minh thiện chí của mình bằng việc đón tiếp trọng thị vị đặc phái viên của ứng cử viên tổng thống Hoa Kỳ thuộc Đảng dân chủ McGovern cùng với việc phóng thích ba tù binh Hoa Kỳ nhân ngày Quốc khánh 2-9 như một sự ủng hộ cho uy tín của ông này và tăng thêm sức ép đối với Nixon[6]. Tuy nhiên, phía Hoa Kỳ vẫn tiếp tục có những sự không nhất trí trong nội bộ giới lãnh đạo của họ cũng như trong ứng xử đối với Sài Gòn. Theo Kissinger có ba khả năng: đạt được giải pháp hòa bình trước bầu cử, kết thúc chiến tranh bằng leo thang oanh kích sau bầu cử hoặc tiếp tục kéo dài chiến tranh với hy vọng Hà Nội phải nhượng bộ[5] Mặc dù Kissinger vẫn thiên về phương án đạt được giải pháp hòa bình trước bầu cử nhưng trong cuộc gặp giữa Nixon, Kissinger và đại sứ Elsword Bunker tại Honolulu ngày 31 tháng 8 thì Nixon lại tính khác. Tin ở khả năng tái cử của mình, ông ta cho rằng nên hoãn các cuộc thương lượng lại đến sau bầu cử. Mặc dù sự chống đối một giải pháp hòa bình của Thiệu ngày càng làm cho Ních-xơn bực mình, nhưng chính ông ta trong những tuần tiếp theo cũng không muốn ký một hiệp định trước cuộc bầu cử nếu nó không có chính điều mà ông ta muốn.[13]

Không tìm được sự ủng hộ tích cực từ Nixon nhưng lại có được thông tin từ chiến trường đưa đến về việc QLVNCH chiếm lại Quảng Trị, giữ được An Lộc và Kon tum; Kissinger đã điều chỉnh lại lập trường của mình và tiến hành các cuộc gặp riêng với đại sứ Liên Xô và đại sứ Trung Quốc tại Washington trước khi gặp lại Lê Đức Thọ tại Paris ngày 15 tháng 9. Mặc dù Kissinger chủ động đưa ra sáng kiến mười điểm mới nhưng theo Lê Đức Thọ đánh giá: nó không khác với đề nghị hồi tháng 8 nhưng lại chứa đựng những "từ ngữ không rõ ràng" và có nhiều điểm thụt lùi so với sáng kiến lần trước[6]. Hoa Kỳ lặp lại đề nghị Nam Việt Nam là một quốc gia riêng, không thừa nhận Chính phủ cách mạnh lâm thời mà chỉ thừa nhận Mặt trận dân tộc giải phóng như một lực lượng chính trị trong khuôn khổ hiến pháp VNCH (sẽ sửa đổi). Trong đề nghị của mình, Kissinger yêu cầu giải quyết "công bằng" đối với các lực lượng vũ trang ở miền Nam chứ không phải là "bình đẳng", không chấp nhận "ngừng bắn tại chỗ" mà chỉ chấp nhận "ngừng bắn chung"; không những lặp lại đề nghị đòi quân đội miền Bắc phải rút khỏi miền Nam mà còn phải rút khỏi Lào và Cam Pu Chia trong khi không đả động đến các lực lượng Hoa Kỳ và Thái Lan có mặt tại đây. Kissinger còn đòi đưa các nước có quân tham chiến (đương nhiên là cả Hoa Kỳ) vào giám sát ngừng bắn.[5]

Đoàn Việt Nam nhận biết nhưng tỏ ra không quan tâm đến sáng kiến mới của phía Hoa Kỳ mà chỉ đồng ý rằng đã đến thời điểm phải nhanh chóng đi đến một giải pháp. Phía Việt Nam chỉ yêu cầu giải quyết ba loại vấn đề: tuyên bố về chính sách, nội dung giải pháp và cách thức thương lượng và đưa ra đề nghị thời hạn rút quân của Hoa Kỳ là 45 ngày sau ký hiệp định toàn bộ. Lê Đức Thọ cũng không nhắc đến yêu cầu giải tán chính quyền VNCH mà trong các cuộc họp hồi tháng 5 và tháng 7, ông vẫn coi là điều kiện tiên quyết. Hai bên cũng bắt đầu bàn đến thành phần của Uỷ ban giám sát quốc tế gồm bốn nước, trong đó có ít nhất hai nước đã tham gia giám sát thi hành Hiệp định Genève. Kissinger muốn hai bên gặp lại sau một tuần nhưng Lê Đức Thọ không đồng tình vì ông cho rằng phía Hoa Kỳ "chưa thật sự muốn đi vào giải pháp sớm".[6]. Cuối cùng Lê Đức Thọ chấp nhận đề nghị của Kissinger về việc cố gắng giải quyết chiến tranh trước ngày 15 tháng 10 và hẹn gặp lại để bàn cụ thể trong hai ngày 26 và 27 tháng 9.[5] Hà Nội điện cho Lê Đức Thọ đồng ý với thời điểm này.

Cuộc gặp ngày 26 và 27 tháng 9 đem lại những kết quả tích cực. Phía Hoa Kỳ xác nhận quyết tâm đi đến một giải pháp nhưng cảnh báo trước những trở ngại có thể diễn ra từ phía Sài Gòn.[5] Đoàn Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra kế hoạch làm việc với các nội dung:

  • Công thức 12/3 cho chính phủ hòa hợp dân tộc lâm thời với quyền lực hạn chế và phải theo nguyên tắc đồng thuận; do đó, không cần có Uỷ ban hòa giải dân tộc mà cần phải bầu cử Quốc hội lập hiến.
  • Nhất trí với Hoa Kỳ về thành phần Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế nhưng chỉ gồm 4 nước.
  • Giải quyết vấn đề Việt Nam trước, sau đó mới gắn với vấn đề Đông Dương.
  • Cam kết giúp Hoa Kỳ giải quyết vấn đề quân nhân Mỹ bị các lực lượng Pathet Lào bắt làm tù binh (trên thực tế không có tù binh Hoa Kỳ ở Cam Pu Chia).[6]

Đoàn Hoa Kỳ cũng trao cho đoàn Việt Nam 4 văn bản về các vấn đề: rút quân và thả tù binh chiến tranh; lập Uỷ ban giám sát quốc tế gồm 5 nước; ngừng bắn chung trên toàn Đông Dương; bảo đảm quất tế. Tuy hoan nghênh những đề nghị mới của Việt Nam nhưng Kissinger vẫn lặp lại hai vấn đề: chỉ công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một lực lượng chính trị, không thừa nhận Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và quân miền Bắc phải rút khỏi miền Nam[5]. Lê Đức Thọ cho rằng đó là các vấn đề có liên quan trực tiếp đến chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và quyền tự quyết, quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam; do đó, nó có tính nguyên tắc và không thể nhân nhượng được. Ông đề nghị phía Hoa Kỳ cũng nên có đi có lại vì Việt Nam dân chủ cộng hòa tuy muốn có hòa bình, độc lập nhưng không phải với bất kỳ giá nào.[6]

Đoàn Hoa Kỳ cho rằng đề nghị mới của họ với bốn vấn đề có tính chất như nghị định thư kèm theo hiệp định đã đáp ứng mối quan tâm của Việt Nam.[5] Phía Việt Nam đánh giá Hoa Kỳ chỉ có những nhân nhượng nhỏ giọt, kéo dài đàm phán, thỏa thuận nửa chừng để trợ giúp Nixon vượt qua bầu cử và tranh thủ thời gian đổ thêm viện trợ vào miền Nam để tăng tiềm lực quân sự cho chính quyền Sài Gòn.[6]

"Hòa bình trong tầm tay"[sửa | sửa mã nguồn]

Richard Nixon, Gerald Ford, Kissinger và Alexander Haig tại Nhà Trắng (1973)

Ngày 30 tháng 9, Việt Nam dân chủ cộng hòa gạt bỏ khả năng cắt đứt đàm phán bằng cách tập trung biên soạn dự thảo hiệp định của phía mình trên cơ sở kết hợp mười điểm lập trường của mình đưa ra ngày 26 tháng 9 với mười điểm lập trường của Hoa Kỳ đưa ra ngày 27 tháng 9. Phía Hoa Kỳ nhận được bản dự thảo hiệp định từ phía Việt Nam ngay khi bắt đầu phiên họp ngày 8 tháng 10. Kissinger cho rằng đây là một bước tiến bộ rất lớn. Hoa Kỳ cuối cùng đã đạt được điều mà mình tìm kiếm: một nền hòa bình phù hợp với danh dự và trách nhiệm quốc tế của Hoa Kỳ, một mục tiêu mà mười năm chiến tranh và ba chính quyền đã không làm được việc đó. Tướng Alexander Heige (từng tham gia chỉ huy các lực lượng trên bộ của Hoa Kỳ ở miền Nam Việt Nam) tuyên bố: "Chúng ta đã cứu vớt danh dự cho bao người đã chiến đấu, đau khổ và hi sinh ở nơi đó"[5]

Để đáp ứng với bước tiến của phía Việt Nam, cả đêm mùng 8 và ngày 9 tháng 10, đoàn Hoa Kỳ đã lao động cật lực để soạn một dự thảo hiệp định của phía mình để trao lại cho phía VNDCCH. Sau đó, các trợ lý của hai đoàn đối chiếu với hai bản dịch tiếng Anh và tiếng Việt, tu chỉnh kỹ thuật những chỗ chưa chuẩn xác để hai phía tiếp tục thảo luận.[6]. Trong hai cuộc họp tối mùng 9 và ngày 10 tháng 10, hai bên xem xét, thảo luận và điều chỉnh từng điểm một trong dự thảo hiệp định. Một loạt các vấn đề Hoa Kỳ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, cam kết chấm dứt chiến tranh, chấm dứt dính líu quân sự; vấn đề trả tù binh chiến tranh của các bên; vấn đề thống nhất hai miền của Việt Nam; vấn đề xúc tiến đàm phán về Lào; vấn đề nhân viên dân sự nước ngoài ở miền Nam; quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ sau chiến tranh; vấn đề rà phá thuỷ lôi, bom mìn; vấn đề cơ cấu chính quyền "Hội đồng hòa giải quốc gia và hòa hợp dân tộc"; vấn đề hiệp thương tổng tuyển cử... lần lượt được hai bên nhượng bộ lẫn nhau và nhất trí về cơ bản[6].

Mặc dù đạt được khá nhiều kết quả nhưng Kissinger vẫn cho Lê Đức Thọ biết rằng ông ta phải thuyết phục những người khác. Khó khăn nhất là phía Hoa Kỳ còn phải thuyết phục được cả Việt Nam Cộng hòa lẫn những nhân vật ủng hộ họ trong chính giới Mỹ. Hai bên đã thỏa thuận được một lịch trình ký tắt (vào ngày 22 tháng 10, trong chuyến đi con thoi Hà Nội-Sài Gòn của Kissinger), công bố (ngày 26 hoặc 27 tháng 10) ký kết (ngày 29, 30 hoặc 31 tháng 10).[6]

Tổng thống Nixon cho rằng Hoa Kỳ đã đạt được cả ba mục tiêu quan hệ quốc tế trọng yếu trong năm 1972: quan hệ đối tác chiến lược với Trung Quốc, mở ra quan hệ với Liên Xô, giải quyết chiến tranh ở Việt Nam trong danh dự. Nixon kết luận: "Tất cả những điều quy định có ý nghĩa tương đương với một sự đầu hàng hoàn toàn của kẻ thù. Họ đã chấp nhận một giải pháp theo điều kiện của chúng ta.[8] Cả Nixon và Kissinger đều tuyên bố trước dư luận: hòa bình đã ở trong tầm tay.

Washington có lý do để vui mừng nhưng Hà Nội chưa vội khuếch trương kết quả quan trọng mới của Hội nghị Paris. Họ nhận thấy Nixon còn có khả năng vượt qua bầu cử mà không cần vội ký kết hiệp định do bản hiệp định vẫn còn hai điểm để ngỏ: vấn đề thay thế vũ khí và thả tù chính trị (được gọi là nhân viên dân sự). Mặt khác, Nixon cũng giành thêm được sự ủng hộ so với McGoverne sau thành công của Kissinger ở Paris. Từ Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu vẫn lớn tiếng tuyên bố không thể ủng hộ một thỏa thuận sau lưng mình. Vì vậy, Hà Nội chuẩn bị sẵn sàng đơn phương công khai hoá dự thảo hiệp định nếu Hoa Kỳ không chịu ký kết và xa hơn nữa, đề phòng Hoa Kỳ cắt đứt đàm phán và ném bom trở lại.[6]

Dư luận quốc tế đánh giá cao những nỗ lực của cả hai phía, đặc biệt là trong ba tuần làm việc căng thẳng cuối tháng 9 giữa Lê Đức Thọ và Kissinger để cuối cùng, đã phác hoạ được những nét cơ bản cho dự thảo hiệp định tương đối hoàn chỉnh. Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô L.I.Brezhnev cho rằng Việt Nam đã đạt được hai mục tiêu cơ bản về chấm dứt sự dính líu của Hoa Kỳ và được công nhận thực tế hai chính quyền ở miền Nam. Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai cũng bày tỏ sự đồng tình với sách lược đấu tranh của Việt Nam.[14]

Ngừng đám phán để ném bom[sửa | sửa mã nguồn]

Thượng nghị sĩ Edmund Muskie, người khởi xướng việc phản đối Nixon ném bom miền Bắc Việt Nam năm 1972

Mọi việc sẽ diễn dúng như trình tự mà hai bên đã thỏa thuận nếu không có những điều mà cả hai bên đã lường trước nhưng không thể và không muốn giải quyết ngay. Đó là phản ứng của Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta đã diễn lại màn kịch với Lyndon B. Johnson bốn năm trước bằng việc phản đối Hoa Kỳ nói chuyện với VNDCCH, phản đối việc chấm dứt ném bom miền Bắc và phản đối giải pháp quân sự. Ông ta còn cho rằng nếu Hoa Kỳ ở lại thêm một thời gian nữa thì: "Hà Nội có thể phải đầu hàng vô điều kiện".[5] Ngày 4 tháng 10, khi tiếp tướng A. Haige, đại diện của Nixon, Nguyễn Văn Thiệu đã chống lại tất cả các đề nghị cũng như bác bỏ tất cả các phản đề nghị của Hoa Kỳ. Khi Kissinger đến Sài Gòn, Nguyễn Văn Thiệu từ chối thảo luận nội dung dự thảo hiệp định. Nixon đã phải gửi thông điệp cho ông ta nói rõ rằng Hoa kỳ không có giải pháp nào hợp lý hơn là chấp nhận hiệp định đó.[8] Mặc dù Kissinger đã thay mặt Nixon bảo đảm rằng Hoa Kỳ sẽ tuyệt đối ủng hộ Nguyễn Văn Thiệu trong những ngày tới nhưng trong buổi làm việc với Trần Văn Lắm (Ngoại trưởng VNCH), ông Lắm đã yêu cầu sửa đổi 23 điểm quan trọng trong dự thảo hiệp định; lặp lại đề nghị xoá bỏ Chính phủ cách mạng lâm thời, đòi miền Bắc rút quân và đòi miền Nam độc lập với miền Bắc... Ngày 22 tháng 10, Kissinger thú nhận: "Chúng tôi đã trở thành tù binh cho lịch công tác mà chúng tôi đã đề ra";[5] còn Nixon thì gửi ngay một giác thư cho Nguyễn Văn Thiệu có đoạn: "Quyết định của ông sẽ có hậu quả nghiêm trọng đến khả năng duy trì sự ủng hộ của tôi cho ông và cho Chính phủ Việt Nam Cộng hòa".[8]. Ngày 23 tháng 10, Kissinger huỷ bỏ chuyến đi ra Hà Nội và việc ký tắt đương nhiên không thành. Không còn cách nào khác, phía VNDCCH công khai hoá về tình hình gặp riêng hai bên và công bố bản dự thảo hiệp định đã thỏa thuận nhưng chưa ký được.[6].

Dư luận quốc tế phản ứng với phía Hoa Kỳ. Hãng UPI cho rằng Việt Nam đã đưa quả bóng sang sân của Hoa Kỳ. Hãng tin Pháp AFP nhận xét: Nixon đã bị dồn vào chân tường và buộc phải lựa chọn, hoặc ký sớm hiệp định, bỏ rơi Thiệu, hoặc tiếp tục chiến tranh. Các nhân vật đối lập trong Quốc hội Hoa Kỳ đòi Nixon phải có trách nhiệm ký hiệp định sớm, không thể để Thiệu muốn làm gì thì làm và họ cho rằng Nguyễn Văn Thiệu đang thách thức lòng tự trọng của người Mỹ.[15] Liên Xô tuyên bố ủng hộ Việt Nam một trăm phần trăm, còn Trung Quốc cũng yêu cầu Hoa Kỳ phải tôn trọng những gì đã thỏa thuận với Việt Nam.[6].

Ngày 4 tháng 11, Nixon trúng cử tổng thống Hoa Kỳ nhiệm kỳ thứ 38. Ngày 20 tháng 11, hai bên tiếp tục gặp gặp nhau tại Paris để thương lượng lại. Cuộc gặp này là một bước thụt lùi lớn so với trước đó một tháng vì Kissinger đòi sửa lại hầu hết các chương của dự thảo hiệp định, lật lại vấn đề quân miền Bắc rút khỏi miền Nam, không công nhận Chính phủ cách mạng lâm thời, không công nhận hiện trạng hai hai chính quyền, hai quân đội, hai địa bàn ở miền Nam, đề nghị bàn thảo lại vấn đề thả tù binh và tù chính trị.v.v... Sau này, chính Kissinger cũng thừa nhận đó là một sai lầm nặng nề về chiến thuật; rằng tác dụng bài phát biểu của ông ta đã thành con số không ngay khi đề cập đến việc sửa đổi 69 điểm do phía Sài Gòn yêu cầu[5]. Sau khi phía Việt Nam tiếp tục có một số nhượng bộ nhưng không phải là nhượng bộ về nguyên tắc, hai bên lại tiếp tục thỏa thuận một lịch trình ký kết vào trung tuần tháng 12. Nhưng cũng như tất cả các lịch trình trong tháng 10, lịch này cũng không được thực hiện do phía Hoa Kỳ không đi vào thực chất vấn đề. Các cuộc gặp ngày 25 tháng 11, ngày 4 tháng 12 và 13 tháng 12 liên tục bế tắc không chỉ do Kissinger vẫn cho rằng chưa đạt yêu cầu của phía Hoa Kỳ mà còn do sự tranh cãi về chữ nghĩa của các chuyên viên hai bên khi rà soát văn bản. Ngày 14, hai bên hoãn họp để về xin ý kiến chính phủ của mình.[6] Đến đây đàm phán lùi lại phía sau và Nixon dùng B-52 để "nói chuyện" với Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Sau chiến dịch Linebacker II[sửa | sửa mã nguồn]

Chấm dứt ném bom để đàm phán[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ CMLT Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình ký Hiệp định Paris 1973

Hồi 14 giờ chiều 18 tháng 12 (giờ Paris, tức 21 giờ ở Việt Nam), trong khi B-52 đang dội bom xuống Hà Nội thì Nixon gửi công hàm cho Phạm Văn Đồng (qua đại biện lâm thời Việt Nam tại Paris) yêu cầu phải họp lại ngày 26 tháng 12. Phía Việt Nam im lặng và trả lời bằng 2 máy bay B-52 bị bắn rơi tại chỗ, 4 chiếc khác bị thương, 6 phi công B-52 bị bắt. Ngày 22 tháng 12, phía Hoa Kỳ tiếp tục có công hàm đề nghị họp lại vào ngày 3 tháng 1 năm 1973 trong khi phi vụ ném bom B-52 thứ 247 của chiến dịch đang được thực hiện. Hà Nội lại im lặng và tiếp tục trả lời bằng con số B-52 rơi lên đến 14 chiếc (phía Hoa Kỳ thừa nhận mất 9 chiếc). Đến ngày 26 tháng 12, Hà Nội mới đồng ý nối lại đàm phán với điều kiện tình hình phải trở lại như trước ngày 18 tháng 12. Nixon cố trút thêm hơn chục nghìn tấn bom đạn xuống nữa xuống Hà Nội, Hải Phòng để lập kỷ lục mất đến chiếc B-52 thứ 15 rồi mới ra lệnh ngừng ném bom và cho Kissinger quay lại Paris.[6]

Trong khi Hà Nội, Hải Phòng chịu những trận mưa bom từ máy bay B-52 thì Nixon và các trợ thủ của ông ta cũng phải chịu những trận "mưa bom" từ dư luận trong và ngoài nước Mỹ. Không một đồng minh NATO nào lên tiếng ủng hộ việc ném bom của Hoa Kỳ. 45 trong số 73 Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ được Viện Gallup hỏi ý kiến chống lại "cuộc ném bom trong dịp Giáng sinh" và tuyên bố sẵn sàng ủng hộ một đạo luật buộc tổng thống phải chấm dứt chiến tranh. Đến ngày 2 tháng 1 năm 1973 thì cả Thượng nghị viện và Hạ nghị viện Hoa Kỳ thông qua với đa số phiếu áp đảo một nghị quyết cắt kinh phí quân sự ở Việt Nam, kể cả viện trợ quân sự cho VNCH (trừ kinh phí cho việc rút quân và hồi hương tù binh). Ngày 8 tháng 1 năm 1973, Kissinger quay lại Paris trong nỗi ám ảnh của bóng ma phản chiến. Chiếc máy bay của ông ta phải đậu cách xa ống kính ghi hình của các phóng viên báo chí tại căn cứ không quân Homestead[5]

Buổi họp đầu tiên sáng ngày 8 tháng 1 được dành cho bài độc thoại của ông Lê Đức Thọ lên án cuộc ném bom trong 12 ngày đêm cuối năm 1972 vừa qua của Hoa Kỳ. Kissinger chỉ phàn nàn: "Tôi nghe thấy có những tính từ và tôi đề nghị không dùng những từ đó". Ông Thọ bác lại: "Tôi nói thế cũng là đã kiềm chế lắm rồi. Dư luận thế giới, các nhà báo và chính các nhân vật ở Hoa Kỳ còn dùng những câu chữ dữ dội hơn nhiều".[6] Như để giữ thể diện, đoàn Hoa Kỳ đề nghị thảo luận theo lập trường mà Hoa Kỳ đưa ra trong công hàm ngày 18 tháng 12 năm 1972. Đoàn Việt Nam trả lời rằng họ quay lại Paris theo đáp ứng của Hoa Kỳ rằng mọi chuyện sẽ quay lại trước ngày 18 tháng 12, lấy sự thỏa thuận ngày 13 tháng 12 làm cơ sở. Và như vậy, bản hiệp định chỉ còn hai vấn đề phải làm rõ là khu phi quân sự và thể thức ký kết. Cuối cùng, phía Hoa Kỳ phải đồng ý.[6]

Nixon quyết định mặc kệ Thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Hội trường quốc tế của Bộ ngoại giao Cộng hòa Pháp tại phố Klébèr, nơi diễn ra Lễ ký Hiệp định Paris 1973

Trong buổi chiếu ngày 8 và cả ngày 9 tháng 1, hai bên đã sửa lại về hình thức ngôn ngữ của một số điều khoản. Phía Việt Nam đồng ý với phía Hoa Kỳ về việc đi lại dân sự qua khu phi quân sự vì trên thực tế, QĐNDVN đã đẩy tuyến phòng thủ giữa mình và QLVNCH đến sông Thạch Hãn và nối liền với Bắc Tây nguyên thì việc cấm qua lại quân sự chỉ còn có ý nghĩa hình thức nếu không nói là vô hiệu. Một số điều khoản có liên quan đến Lào và Campuchia cũng được điều chỉnh theo hướng tôn trọng các hiệp định Genève năm 1954 về Campuchia và 1962 về Lào; công việc nội bộ của hai nước này do họ tự giải quyết, không có sự can thiệp của nước ngoài, quan hệ giữa các nước Đông Dương với nhau cũng do các nước này tự quyết định. Hiệp định coi như đã hoàn thành.[6]

Ngày 10 và 11 tháng 1, hai bên tiếp tục giải quyết xong các hiểu biết (understanding) gồm những vấn đề cụ thể về khái niệm có thể ký bằng thỏa thuận giữa hai bên, không cần thiết phải đưa vào nội dung chính của Hiệp định hoặc Nghị định thư nhưng mặc nhiên được coi như một bộ phận của Hiệp định. Sang ngày 12, hai bên bàn đến vấn đề cách thức ký hiệp định. Ban đầu, Kissinger đề nghị ba bên Hoa Kỳ, Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ cách mạng lâm thời ký riêng một lời nói đầu, Việt Nam Cộng hòa ký riêng một lời nói đầu khác. Đến ngày 13 tháng 1, ông ta lại đề nghị Hoa Kỳ và Việt Nam dân chủ cộng hòa ký riêng một lời nói đầu và điều 23, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký riêng rẽ hai phần này dưới hình thức một công hàm gia nhập hiệp định (adherence). Phía Việt Nam dân chủ cộng hòa phản đối với lý do các bên ký kết phải cùng ký toàn bộ hiệp định và các nghị định thư để đảm bảo cam kết của họ về hình thức pháp lý. Phía Hoa Kỳ tiếp tục đưa ra ba cách ký mà trong đó đều không có tên Chính phủ cách mạng lâm thời cũng như chức vụ Bộ trưởng ngoại giao Chính phủ cách mạng lâm thời và dĩ nhiên không được phía VNDCCH chấp nhận. Kissinger còn đề nghị mỗi bên ký một trang riêng nhưng cũng bị phía Việt Nam bác bỏ. Cuối cùng, hai bên thỏa thuận ký bốn bên và ký hai bên. Các trang để ký đều được gộp vào văn bản hiệp định và đánh số thứ tự. Hai bên thỏa thuận ký kết vào ngày 27 tháng 1.[6]

Nguyễn Văn Thiệu đã cố cản trở Nixon lần cuối cùng khi ông ta lệnh cho Nguyễn Đỗ Phượng, đại sứ của mình ở Washington cùng với hai người được ông ta cử sang là Bùi Diễm (cựu đại sứ VNCH ở Hoa Kỳ) và Trần Văn Đỗ mở một chiến dịch vận động hành lang (lobby) từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 1 đối với những nhân vật đứng đầu các đảng Cộng hòa, Dân chủ và những nhân vật chủ chốt khác ở cả hai viện Quốc hội Hoa Kỳ. Trong tường trình của Bùi Diễm gửi về Sài Gòn cho Nguyễn Văn Thiệu ghi nhận bốn nhân vật quan trọng của Quốc hội Hoa Kỳ, các ông Hubert Humphrey, John Tower, Jarvis và Eirken đều cùng chung một quan điểm: Chiều hướng chung của Quốc hội Hoa Kỳ lúc này là chấm dứt chiến tranh. Vụ oanh tạc bằng B-52 vừa rồi đã gây xúc động tới mức những nghị sĩ trong Đảng Cộng hòa cũng phản đối chính sách của tổng thống và sốt ruột vì hòa bình. Ông Tower còn nói nếu chọn nguyên tắc và thực chất thì ông sẽ chọn thực chất dù bề ngoài có thể mất thể diện chút ít.[16]

Sau khi gửi đến 8 bức điện mật từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 1 nhưng không thuyết phục được Nguyễn Văn Thiệu, Nixon đã phải dùng đến những biện pháp gay gắt nhất. Ngày 16 tháng 1, ông cử đại tướng Alexander Haige đến Sài Gòn đem theo một bức giác thư, có đoạn viết:

Chúng tôi đã quyết định dứt khoát sẽ ký tắt hiệp định ngày 23 tháng 1 năm 1973 tại Paris. Nếu cần, tôi sẽ một mình làm đúng như thế. Trong trường hợp đó, tôi phải công bố rằng chính phủ của ông cản trở hòa bình. Kết quả là sự chấm dứt viện trợ kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ ngay lập tức và không tránh khỏi. Và mọi sự xếp đặt lại chính quyền của ông cũng chẳng thể thay đổi được tình hình.

—Nixon

Sau khi Alexander Haig đi, Nixon nói với Kissinger: "Ông sẽ hiểu thế nào là sự tàn bạo nếu tên đểu giả đó không chịu chấp thuận. Ông hãy tin lời tôi". Mặc dù vậy, Nixon vẫn bảo đảm với Nguyễn Văn Thiệu rằng: "Hoa Kỳ đơn phương công nhận chính phủ của ngài là chính phủ hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam" nhưng sự đảm bảo này không thể được ghi vào hiệp định.[5]. Không còn cách nào khác, Nguyễn Văn Thiệu phải cử Trần Văn Lắm đi Paris để ký kết hiệp định. Như mọi người đều biết, hồi 10 giờ 30 phút (giờ Paris) ngày 23 tháng 1, lễ ký tắt giữa Kissingere và Lê Đức Thọ diễn ra tại Trung tâm Hội nghị quốc tế - Bộ ngoại giao Cộng Hoà Pháp trên đại lộ Kléber. Đến 11 giờ (giờ Paris) ngày 27 tháng 1, lễ ký chính thức đã diễn ra cũng tại đây. Buổi sáng, bốn bên Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ký. Buổi chiều cùng ngày, hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký.[6]

Bản dự thảo tháng 10-1972 và bản chính thức của Hiệp định Paris: tuy hai mà một[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ William P. Rogers, người thay mặt chính phủ Hoa Kỳ ký bản Hiệp định Paris 1973

Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam không chỉ đơn thuần có một văn bản hiệp định mà có hai văn bản giống nhau (chỉ khác về câu chữ ở điều 23). Một văn bản do hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cùng ký, một văn bản do bốn bên Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Cộng hòa ký. Kèm theo Hiệp định này là 4 Nghị định thư về các vấn đề có liên quan đến bốn bên, hai bên và một bản ghi nhớ các hiểu biết về các nội dung được thỏa thuận. Ngoài ra, ngày 1 tháng 2 năm 1973, Tổng thống Nixon còn gửi một công hàm cho phía Việt Nam dân chủ cộng hòa với 7 nguyên tắc về việc xây dựng lại sau chiến tranh ở Bắc Việt Nam theo Điều 21 của Hiệp định có bổ sung thêm một hiểu biết về Chương trình xây dựng lại kinh tế và ghi chú về những hình thức viện trợ khác.[17]

Cuối tháng 2 năm 1973, các bên Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam, Ba Lan, Canada, Hungary và Indonesia dưới sự bảo trợ của Tổng thư ký Liên hiệp quốc còn ký một Định ước cuối cùng của Hội nghị quốc tế về Việt Nam gồm lời nói đầu và 9 điều khoản.[18] Định ước được soạn bằng 5 ngôn ngữ (Việt, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc) bày tỏ sự tán thành, ủng hộ và ghi nhận tính pháp lý quốc tế của Hiệp định Paris 1973 và các nghị định thư kèm theo; công nhận và tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Định ước cũng quy định bốn bên ký hiệp định và hai bên miền Nam Việt Nam thông báo cho các bên ký định ước về tiến trình thi hành hiệp định. Trong trường hợp xảy ra vi phạm hiệp định, các bên ký hiệp định sẽ trao đổi với các bên cùng ký định ước để xác định các biện pháp giải quyết cần thiết.[19].

So với bản dự thảo hồi tháng 10 năm 1972, bản chính thức của Hiệp định Paris năm 1973 được ký kết hầu như không khác nhau về nội dung. Dự thảo gồm 18 điều và dự kiến có thêm bản tiếng Pháp ngoài hai bản tiếng Anh và tiếng Việt. Bản được ký chính thức gồm 23 điều bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Chương I và Chương II được giữ nguyên gồm 7 điều. Chương III chỉ sửa lại tên gọi cho chi tiết vì bổ sung thêm vấn đề thường dân nước ngoài và nhân viên dân sự Việt nam bị bắt, giam giữ. Chương IV gồm điều 9 và 9 khoản kèm theo được tách thành 6 điều, mỗi điều có từ 1 đến 3 khoản. Chương V gồm 1 diều (điều 10 của sự thảo và điều 15 ở bản được ký) được quy định chi tiết hơn. Chương VI giữ nguyên cấu trúc 4 điều và sửa đổi một số khoản về hình thức. Chương VII về Campuchia và Lào hầu như không thay đổi nội dung. Chương VIII về quan hệ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Hoa Kỳ được giữ nguyên nội dung. Chương IX về điều khoản hiệu lực được chi tiết hoá cho phù hợp với thể thức ký. Trên thực tế, bản dự thảo hiệp định hồi tháng 10 năm 1972 và bản chính thức được ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973 không có các thay đổi lớn[6] Sau này, chính Kissinger đã ghi nhận điều đó với các câu hỏi và tự mình trả lời:

Điều đó có bõ không? Những sự thay đổi liệu có đủ quan trọng để biện minh cho nỗi lo âu và cay đắng trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh không? Không, đối với chúng ta, hẳn thế; nhưng gần như chắc chắn là có đối với Sài Gòn mà sự tồn tại của họ, nói cho cùng, là cái cớ của chiến tranh.

—Henry Kisinger, [5]

Một số mốc thời gian quan trọng của Hội nghị Paris[sửa | sửa mã nguồn]

1967[sửa | sửa mã nguồn]

  • 23 đến 26/1: Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định nâng hoạt động ngoại giao thành một mặt trận để phối hợp với mặt trận quân sự và chính trị.
  • 28/1: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh trả lời phỏng vấn nhà báo Australia Winfred Burchet: "Nếu Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam thì Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể nói chuyện với Mỹ".
  • 29/9: Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson tuyên bố công thức San Antonio về vấn đề nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • 29/12: Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tuyên bố: "Sau khi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom miền Bắc Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nói chuyện với Mỹ về những vấn đề liên quan".

1968[sửa | sửa mã nguồn]

  • 30 và 31/1: Lực lượng giải phóng tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân ở toàn miền Nam.
  • 31/3: Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đọc diễn văn về việc ném bom hạn chế miền Bắc Việt Nam và đề nghị nói chuyện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
  • 3/4: Sau nhiều cuộc tiếp xúc bí mật mang tính "tiền trạm" của phía Mỹ, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố "sẽ cử đại diện tiếp xúc với đại diện Mỹ".
  • 2/5: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ thỏa thuận lấy thành phố Paris làm điểm tiếp xúc sau một cuộc tranh luận kéo dài gần một tháng.
  • 13/5: Hội nghị Paris giữa phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mỹ chính thức bắt đầu tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, phố Kléber. Mỹ cử Averell Harriman và Cypruc Vance, hai nhà ngoại giao kỳ cựu, làm Trưởng và Phó đoàn. Ngoài ra còn có hai chuyên gia khác về Việt Nam là Philippe Habib và W.Jordan. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có Xuân Thủy, từng nắm trọng trách Bộ trưởng Ngoại giao làm Trưởng đoàn, Phó đoàn là Hà Văn Lâu, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Ngoài ra còn có luật gia Phan Hiền, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân Dân Nguyễn Thành LêNguyễn Minh Vỹ, người từng tham gia Hội nghị Geneva 1961 - 1962 về Lào.
Lập trường của Mỹ thời kỳ đầu đàm phán là: Cần có sự tham gia của Phái đoàn Chính phủ Sài Gòn; Bắc Việt Nam không vi phạm khu phi quân sự, không bắn pháo hay tên lửa vào các thành phố lớn ở miền Nam như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản đối những đòi hỏi đó và đòi Mỹ chấm dứt không điều kiện việc ném bom và để Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tham gia hội đàm.
  • 3/6: Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam, Cố vấn Đặc biệt của Phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Lê Đức Thọ tới Paris.
  • 8/9: Bắt đầu cuộc tiếp xúc riêng giữa cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thủy với các ông Harriman và Cypruc Vance.
  • 21/10: Bộ trưởng Xuân Thủy thông báo Hà Nội chấp nhận hội nghị bốn bên giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.
  • 31/10: Tổng thống Johnson tuyên bố với nhân dân Mỹ: "Chấm dứt mọi việc ném bom bằng không quân, hải quân và bắn phá bằng pháo binh chống miền Bắc Việt Nam bắt đầu từ ngày 1/11/1968", bất chấp sự phản đối của Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Văn Thiệu.
  • 6/11: Ứng viên Đảng Cộng hòa Richard Nixon đắc cử Tổng thống Mỹ.
  • 27/11: Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu chấp nhận tham dự Hội nghị Paris cùng với Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
  • 7/12: Phái đoàn Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ làm Cố vấn, Phạm Đăng Lâm làm Trưởng đoàn rời Sài Gòn đi Paris dự hội nghị.
  • 10/12: Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cử Phái đoàn đi dự Hội nghị Paris do Trần Bửu Kiếm làm trưởng đoàn, Nguyễn Thị Bình làm Phó Trưởng đoàn.

1969[sửa | sửa mã nguồn]

  • 25/1: 10h30" sáng, hội nghị bốn bên: VNDCCH, MTDTGPMNVN, Mỹ và VNCH khai mạc trọng thể tại Paris, 5 ngày sau khi Tổng thống Lyndon Johnson rời khỏi Nhà Trắng.
  • 23/2: Richard Nixon ra lệnh ném bom "Đất thánh" của "Việt Cộng" ở Campuchia.
  • 8/3: Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge tới gặp riêng Bộ trưởng Xuân Thủy. Sau đó ông ta đảm trách vị trí Trưởng đoàn Mỹ tại Hội nghị Paris thay ông Harriman.
  • 8/5: Phái đoàn MTDTGPMNVN do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Bình đứng đầu đưa ra "Giải pháp hòa bình 10 điểm".
  • 14/5: Tổng thống Mỹ Richard Nixon đưa ra "Đề nghị tám điểm".
  • 6/6: Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
  • 8/6: Tổng thống Mỹ gặp ông Nguyễn Văn Thiệu ở đảo Midway và ra tuyên bố về đợt rút quân Mỹ đầu tiên gồm 25.000 binh sĩ khỏi miền Nam Việt Nam, bước đầu thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh".
  • 4/8: Henry Kissinger bí mật gặp Xuân Thủy lần đầu tiên ở Paris.
  • 15/10: Bắt đầu đợt "tạm ngừng hoạt động" ở Mỹ để phản đối chiến tranh Việt Nam. Biểu tình rầm rộ diễn ra ở hầu khắp các thành phố lớn trên đất Mỹ.
  • 3/11: Nixon tuyên bố sẽ giải quyết vấn đề Việt Nam bằng thương lượng hoặc thông qua "Việt Nam hóa chiến tranh".

1970[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 1: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam quyết định đẩy mạnh đấu tranh toàn diện ở miền Nam Việt Nam từ cuối năm 19701971, chuẩn bị cho bước quyết định vào năm 1972.
  • 21/2: Cố vấn Lê Đức Thọ, Bộ trưởng Xuân Thủy gặp Henry Kissinger cùng Richard Smyer, chuyên gia về vấn đề Việt Nam và Tướng V. Walters. Bắt đầu các cuộc gặp riêng Lê Đức Thọ và Kissinger.
  • Tháng 3: Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam quyết định đẩy mạnh tấn công quân sự, chính trị và ngoại giao, đòi thành lập chính phủ liên hiệp ở miền Nam.
  • 4/5: Cảnh sát Mỹ bắn chết 4 sinh viên phản đối chiến tranh Việt Nam ở Đại học Kent. 5 ngày sau, biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam nổ ra khắp nước Mỹ.
  • 17/9: Tại phiên họp toàn thể lần thứ 80 Hội nghị Paris, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đưa ra giải pháp "Tám điểm / nói rõ thêm" về Việt Nam, trong đó có việc rút quân Mỹ và thả tù binh cùng một thời hạn, thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời ở miền Nam Việt Nam.
  • 18/10: Tổng thống Mỹ Nixon đưa ra "Đề nghị năm điểm" mà không đòi quân miền Bắc rút khỏi miền Nam Việt Nam.
  • 10/12: Tại phiên họp toàn thể lần thứ 94 Hội nghị Paris, Nguyễn Thị Bình đưa ra "Tuyên bố ba điểm" về ngừng bắn và yêu cầu quân Mỹ rút khỏi miền Nam vào ngày 31 tháng 7 năm 1971.

1971[sửa | sửa mã nguồn]

  • 21/4: Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai mời Tổng thống Mỹ Richard Nixon thăm Bắc Kinh sau màn "ngoại giao bóng bàn" giữa Mỹ và Trung Quốc.
  • 31/5: Tại cuộc gặp riêng với Xuân Thủy, Kissinger đưa ra đề nghị "cuối cùng" bảy điểm, đòi tách riêng vấn đề quân sự và vấn đề chính trị, mặc dù trước đây Mỹ định bàn cả hai.
  • 26/6: Phái đoàn VNDCCH đưa ra "Đề nghị chín điểm".
  • 1/7: Tại hội nghị bốn bên, Chính phủ Cách mạng Lâm thời CHMNVN đưa ra "Đề nghị bảy điểm" đòi quân Mỹ rút ra khỏi miền Nam Việt Nam trong năm 1971.
  • 9/7: Kissinger tới Trung Quốc làm tiền trạm cho Tổng thống Nixon đi thăm chính thức Bắc Kinh.
  • 13/7: Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai bí mật sang Hà Nội thông báo việc Kissinger đi Bắc Kinh.
  • 16/8: Tại cuộc gặp riêng ở Trung Quốc, Kissinger đưa ra "Đề nghị tám điểm". Về cơ bản Mỹ vẫn giữ lập trường cũ: "Không muốn giải quyết toàn bộ mà chỉ muốn giải quyết vấn đề quân sự để lấy được tù binh về".
  • 20/11: Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng thăm Bắc Kinh.

1972[sửa | sửa mã nguồn]

  • 25/1: Tổng thống Mỹ Nixon đơn phương công bố nội dung các cuộc gặp riêng và "Đề nghị tám điểm" đưa ra ngày 16 tháng 8 năm 1971.
  • 31/1: Phái đoàn VNDCCH công bố "Đề nghị chín điểm" đã trao cho ông Kissinger ngày 26 tháng 6 năm 1971, tố cáo Nhà Trắng vi phạm thỏa thuận giữa hai bên không công bố các nội dung cuộc họp riêng theo đề nghị của chính Kissinger.
  • 17/2: Tổng thống Mỹ Richard Nixon lên đường thăm Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc và Mỹ ra Thông cáo chung Thượng Hải.
  • 22/3: Mỹ đơn phương tuyên bố ngừng họp Hội nghị Paris vô thời hạn.
  • 30/3: Mở màn cuộc tấn công chiến lược Xuân - Hè, Quân Giải phóng miền Nam mở các cuộc tấn công lớn từ Quảng Trị đến Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ.
  • 6/4: Tổng thống Mỹ Richard Nixon hạ lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam.
  • 15/4: Mỹ ném bom tại miền Bắc.
  • 2/5: Các ông Lê Đức Thọ và Xuân Thủy gặp lại Kissinger tại Paris. Toàn tỉnh Quảng Trị được giải phóng.
  • 8/5: Mỹ thả mìn các cảng và phong tỏa miền Bắc.
  • Tháng 6: Bộ Chính trị Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam quyết định chuyển sang chiến lược hòa bình.
  • 13/7: Mỹ chấp nhận họp lại Hội nghị toàn thể bốn bên ở Paris.
  • 19/7: Tại cuộc gặp riêng, Việt Nam và Mỹ đều đưa ra tuyên bố về chính sách chung. Cuộc thương lượng bí mật giữa Lê Đức Thọ và Kissinger đi vào thực chất.
  • 1/8: Mỹ đưa ra "Đề nghị 12 điểm", VNDCCH đưa ra "Đề nghị 10 điểm".
  • 14/8: Đoàn VNDCCH trao cho Mỹ văn kiện khẳng định lại một số nguyên tắc: "Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược, mọi sự dính líu về quân sự ở Việt Nam, mọi sự can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam, tôn trọng quyền tự quyết và quyền độc lập thực sự của Việt Nam; Phải thừa nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có 2 chính quyền, 2 lực lượng vũ trang và 3 lực lượng chính trị, cần lập một chính phủ hòa hợp dân tộc ba thành phần".
  • 8/10: Phái đoàn VNDCCH đưa cho phía Mỹ dự thảo "Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" và hai bên thảo luận cụ thể từng điều khoản.
  • 11/10: Trong cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Xuân Thủy với Kissinger kéo dài từ sáng ngày 11 đến 2 giờ sáng ngày 12 tháng 10, hai bên đã thảo luận về dự thảo hiệp định và lịch trình sau: 18 tháng 10 chấm dứt ném bom và thả mìn ở miền Bắc, 19 tháng 10 ký tắt Hiệp định tại Hà Nội, 26 tháng 10 ký chính thức tại Paris và 27 tháng 10 ngừng bắn ở Việt Nam.
  • 13/10: Phía Mỹ thông báo cho Đoàn Việt Nam rằng Tổng thống Nixon đã chấp nhận bản dự thảo hai bên đã bàn.
  • 20/10: Tổng thống Mỹ Richard Nixon gửi công hàm cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng và khẳng định "Văn bản hiệp định xem như đã hoàn thành" và cho biết Henry Kissinger sẽ đi Hà Nội ngày 24 tháng 10, ngày 30 tháng 10 ký hiệp định. Mỹ lập cầu hàng không mang tên "Enhance Plus" tiếp tế ồ ạt vũ khí cho Sài Gòn.
  • 21/10: Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời Tổng thống Nixon rằng, sẵn sàng ký hiệp định, đồng ý thời gian biểu của Nixon nêu.
  • 23/10: Mỹ lại nêu ra nhiều trở ngại để trì hoãn việc ký Hiệp định. Nixon gửi công hàm đề nghị hai bên có cuộc gặp riêng để bàn thêm và báo Kissinger hoãn chuyến đi Hà Nội.
  • 26/10: Chính phủ VNDCCH công bố các văn kiện Việt Nam và Mỹ đã thỏa thuận và đòi Mỹ ký văn bản đó. Henry Kissinger tuyên bố "Hòa bình trong tầm tay".
  • 2/11: Richard Nixon ra lệnh B52 tấn công phía Bắc khu phi quân sự.
  • 7/11: Richard Nixon tái đắc cử Tổng thống Mỹ.
  • 20/11: Thương lượng lại: Mỹ đòi sửa đổi hầu hết các vấn đề thực chất trong tất cả các chương theo yêu cầu của Việt Nam Cộng hoà.
  • 13/12: Thương lượng bế tắc. Hai bên ngừng họp để xin chỉ thị của Chính phủ mình.
  • 18/12: Tổng thống Mỹ Nixon cho máy bay chiến lược B52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng, mở đầu chiến dịch mang mật danh "Cuộc hành quân Lineblacker II" kéo dài 12 ngày đêm. Đồng thời, Washington gửi công hàm cho Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị họp lại. Hà Nội không trả lời.
  • 22/12: Mỹ lại gửi công hàm yêu cầu họp lại với điều kiện Mỹ sẽ chấm dứt ném bom trên vĩ tuyến 20.
  • 26/12: Phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi trở lại tình hình trước ngày 18 tháng 12 thì hai bên mới họp lại. Mỹ chấp nhận.
  • 30/12: Đúng 7 giờ sáng, Washington tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam từ bắc vĩ tuyến 20 và đề nghị nối lại đàm phán ở Paris. Nixon đưa quan điểm "cần đạt được một giải pháp dù đối phương đưa ra những điều kiện khắt khe" và chấp thuận tất cả những gì đã chối từ, kể cả một kết quả đàm phán ngoài mong muốn.

1973[sửa | sửa mã nguồn]

  • 8/1: Họp lại ở Paris. Kissinger muốn xét lại về các vấn đề các quyền cơ bản của Việt Nam nhưng bị bác bỏ.
  • 10/1: Kissinger yêu cầu "điều chỉnh" lại lực lượng ở miền Nam Việt Nam (tức rút quân miền Bắc), nhưng cũng bị bác bỏ.
  • 13/1: Các bên hoàn thành văn bản của hiệp định. Kết thúc những đợt gặp riêng giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Cố vấn Henry Kissinger.
  • 16/1: Tổng thống Nixon gửi thư cho Nguyễn Văn Thiệu, coi Chính quyền của ông Thiệu là hợp pháp duy nhất ở miền Nam Việt Nam.
  • 23/1: Mỹ chấp nhận ký hiệp định Paris không điều kiện. Lê Đức Thọ và Kissinger tiến hành ký tắt hiệp định.
  • 27/1: Bốn bên chính thức ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và 4 nghị định thư liên quan. Tham gia lễ ký có đại diện VNDCCH là Ngoại trưởng Nguyễn Duy Trinh, đại diện Mỹ là Ngoại trưởng William P. Rogers, đại diện CPCMLT CHMNVN là Ngoại trưởng Nguyễn Thị Bình và đại diện VNCH, Ngoại trưởng Nguyễn Văn Lắm.
Hiệp định Paris về Việt Nam có 9 chương với 23 điều khoản.
  • 28/1: Ngừng bắn trên toàn miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris chính thức được thi hành.
  • 30/1: Tổng thống Richard Nixon gửi công hàm cho VNDCCH về việc Mỹ sẽ đóng góp hàn gắn vết thương chiến tranh ở Việt Nam.
  • 8/2: Cố vấn Henry Kissinger tới thăm Hà Nội.
  • 21/2: Ký Hiệp định Viên Chăn về chấm dứt chiến tranh ở Lào.
  • 2/3: Đại diện 12 chính phủ tham gia Hội nghị Quốc tế về Việt Nam tại Paris, với sự có mặt của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, ký Định ước Paris về Việt Nam.
  • 29/3: Người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Alain Wasmes. Những gì tôi thấy ở Việt Nam. (Nguyên bản tiếng Pháp: Vietnam-La peau du Pachyderme - (Việt Nam tấm da voi) Edition Socialis, Paris, 1976.) Dịch giả: Nguyễn Hữu Cầu. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2004. trang 12
  2. ^ Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng. Tập 28. trang 174 (Kết luận của Hội nghị Ban chấp hành trung ương lần thứ 13-Khoá III, số 155-NQ/TW ngày 27 tháng 1 năm 1967).
  3. ^ Ilya V. Gaiduk. Liên bang Xô Viết và chiến tranh Việt Nam. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 1998. trang 426
  4. ^ Ezof. Truyện ngụ ngôn. NXB Văn học. Hà Nội. 1960. (bản dịch từ tiếng Pháp, người dịch: Huỳnh Lý)
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q Kissingerr. A la maison blanche 1968-1973. Edition Fayard. Paris. 1979
  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa Lưu Văn Lợi-Nguyễn Anh Vũ. Các cuộc thương lượng bí mật Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2002
  7. ^ Bộ ngoại giao CHXHCN Việt Nam-Vụ Thông tin báo chí. Sự thật về quan hệ ngoại giao Việt Nam-Trung Quốc 30 năm qua (Sách trắng). NXB Sự thật.Hà Nội.1980
  8. ^ a ă â b c d Richard Nixon The memory of Nixon. Grosset and Dunlap. New York. 1978.
  9. ^ .Tài liệu cơ bản về giải pháp cho vấn đề miền Nam Việt Nam. NXB Giải phóng. 1972. trang 35-37
  10. ^ Lê Đức Thọ. Phát biểu tổng kết nhân dịp 15 năm Hiệp định Paris. dẫn theo Lưu Văn Lợi-Nguyễn Anh Vũ. Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2002. trang 445, 447-448
  11. ^ Nguyễn Duy Trinh. Mặt trận ngoại giao thời kỳ chống Mỹ cứu nước. NXB Sự thật. Hà Nội. 1979. trang 203-204
  12. ^ Thư của Nguyễn Duy Trinh gửi Phạm Văn Đồng, dẫn theo Lưu Văn Lợi-Nguyễn Anh Vũ. Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris. NXB Công an nhân dân. Hà Nội. 2002. trang 447
  13. ^ a ă â Gabriel Kolko. Giải phẫu một cuộc chiến tranh. Dịch giả: Nguyễn Tấn Cưu. NXB Quân đội Nhân dân. Hà Nội. 2003. trang 64, 66
  14. ^ George C.Herring. Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ, NXB Chính trị quốc gia.Hà Nội.1998
  15. ^ George Aiken Nhật ký Thượng nghị viện. Brattleboro. 1976. tr.59-60
  16. ^ Dương Hảo. Một chương bi thảm. NXB Quân đội nhân dân. Hà Nội. 1980
  17. ^ Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam. NXB Sự thật. Hà Nội. 1973
  18. ^ Từ điển bách khoa Việt Nam. NXB Từ điển bách khoa. Hà Nội. 1999. trang 825 (mục từ: Định ước cuối cùng của Hội nghị quốc tế về Việt Nam).
  19. ^ Vụ thông tin báo chí. Bộ ngoại giao nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam. Hà Nội. 1973