HMS Champion (1915)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Champion.jpg
Tàu tuần dương HMS Champion
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Champion
Hãng đóng tàu: Hawthorn Leslie and Company
Đặt lườn: 9 tháng 3 năm 1914
Hạ thủy: 29 tháng 5 năm 1915
Nhập biên chế: 20 tháng 12 năm 1915
Số phận: Bị bán để tháo dỡ 28 tháng 7 năm 1934
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu tuần dương C
Trọng tải choán nước: 3.750 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 135,9 m (446 ft) (chung)
Sườn ngang: 12,6 m (41 ft 6 in)
Mớn nước: 4,4 m (14 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi Yarrow
4 × trục
công suất 37.500 mã lực (27,9 MW)
Tốc độ: 52,8 km/h (28,5 knot)
Tầm xa: 10.930 km ở tốc độ 18,5 km/h
(5.900 hải lý ở tốc độ 10 knot)
Tầm hoạt động: 405 tấn dầu đốt (tối đa 772 tấn)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
324
Vũ trang:

4 × hải pháo BL 152 mm (6 inch)/45 cailber Mark XII (4×1)
1 × hải pháo QF 102 mm (4 inch) Mark V phòng không

1 × pháo 3 pounder
6 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch)
Bọc giáp: đai giáp chính: 102 mm (4 inch) giữa tàu
38-57 mm (1½-2¼ inch) phía mũi
51-64 mm (2-2½ inch) phía đuôi
sàn trên: 25 mm (1 inch)
sàn chính: 25 mm (1 inch) bên trên bánh lái

HMS Champion là một tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc lớp tàu tuần dương C của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, và thuộc về lớp phụ Calliope. Champion được chế tạo bởi hãng đóng tàu Hawthorn Leslie and Company. Nó được đặt lườn vào ngày 9 tháng 3 năm 1914; hạ thủy vào ngày 29 tháng 5 năm 1915 và đưa ra hoạt động vào ngày 20 tháng 12 năm 1915.

Vào giai đoạn đầu của Chiến tranh thế giới thứ nhất, Champion được phân về Hạm đội Grand như là soái hạm của Phân hạm đội Khu trục 13. Cùng với nhiều tàu chị em khác, nó đã tham gia trận Jutland vào ngày 31 tháng 5-1 tháng 6 năm 1916.

Champion đã sống sót qua cuộc chiến tranh, nhưng bị xem là đã lạc hậu trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra. Nó được sử dụng như là nền tảng thử nghiệm cho những hệ thống điều khiển hỏa lực từ xa (RPC: Remote Power Control) đầu tiên của Hải quân Hoàng gia vào năm 1928.[1] Nó được bán cho hãng Metal Industries tại Rosyth vào ngày 28 tháng 7 năm 1934 để tháo dỡ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Rippon, Evolution of Engineering in the Royal Navy, trang 258

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]